Điện ảnh Việt Nam trên sân khấu của liên hoan phim thế giới

Nguồn: Tổng hợp
Chỉ một vài thập kỷ trước, cụm từ “liên hoan phim quốc tế” có lẽ vẫn chưa mang nhiều ý nghĩa đối với phần đông khán giả Việt Nam. Chúng thường chỉ là mối quan tâm của một cộng đồng tương đối biệt lập, của giới làm phim, nhà phê bình, hay những ai hay theo dõi thứ điện ảnh nằm ngoài đường biên phòng vé.
Thế nhưng giờ đây, những dòng chữ như “công chiếu tại Berlin”, “tranh giải tại Venice”, “nhận được tràng pháo tay mười phút tại Cannes” ngày càng trở nên quen thuộc trên các tấm poster, trailer, thông cáo báo chí và những dòng tít báo. Đối với nhiều khán giả, nhìn thấy sự công nhận quốc tế dành cho một bộ phim mang theo niềm tự hào dân tộc, khi mỗi lần một tác phẩm quốc nội được tuyển chọn tại liên hoan phim quốc tế là một minh chứng cho thấy điện ảnh Việt Nam đã bước ra khỏi những định kiến cũ kỹ rằng chúng ta luôn đi sau các nền điện ảnh lớn hàng thập kỷ, để giờ có thể tự tin đứng ngang hàng với phần còn lại của thế giới trên sân khấu quốc tế.
Tại Liên hoan phim Quốc tế Busan năm nay, có tới năm bộ phim Việt được lựa chọn cho bốn hạng mục khác nhau. Xét về số lượng, đây là một kỷ lục đối với nền điện ảnh nước nhà. Vậy nên, sẽ thật dễ để nhìn vào một khoảnh khắc như vậy và nói rằng điện ảnh Việt Nam đã bước sang một chương mới. Nhưng thực chất chúng ta chẳng hề đột nhiên phát hiện ra các liên hoan phim quốc tế trong vài năm gần đây. Các bộ phim Việt Nam đã hiện diện và tranh tài tại các sự kiện điện ảnh toàn cầu từ bảy thập niên trước.
Khi điện ảnh Việt lần đầu bước ra thế giới
Mô hình liên hoan phim quốc tế ngày nay bắt đầu từ Venice. Trong bối cảnh công chúng Italy ngày càng quan tâm tới điện ảnh, vào đêm 6/8/1932, Liên hoan phim Quốc tế Venice lần đầu được khai mạc, với sự góp mặt của những đạo diễn lừng danh như René Clair và Frank Capra.
Tác phẩm mở màn Dr. Jekyll and Mr. Hyde của đạo diễn Rouben Mamoulian trở thành bộ phim đầu tiên được trình chiếu tại một liên hoan phim quốc tế. Thành công của LHP Venice đã truyền cảm hứng cho sự khai sinh của nhiều liên hoan phim quốc tế danh giá khác, như LHP Cannes vào năm 1946 (vốn được thành lập để đối trọng với một LHP Venice ngày càng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa phát xít), hay LHP Berlin vào năm 1951.
Câu chuyện của điện ảnh Việt Nam tại các liên hoan phim quốc tế bắt đầu sau đó không lâu.
Theo những ghi chép ít ỏi còn sót lại, vào năm 1955, bộ phim Đất lành được trình chiếu tại LHP Berlin lần thứ bảy. Cũng trong năm ấy, Xuân, Em bé chăn trâu được ghi nhận đã giành giải Grand Prix ở Đại hội điện ảnh Á Châu Nam Vang (Phnom Penh). Song cả hai tác phẩm này đều không được đạo diễn bởi nhà làm phim Việt Nam: Đất lành được thực hiện bởi đạo diễn người Philippines Ramon A. Estella, còn Xuân, Em bé chăn trâu do nhà làm phim người Pháp Jean Leduc đạo diễn.
Nếu thu hẹp tiêu chí lại thành những tác phẩm do một đạo diễn người Việt thực hiện, danh hiệu sẽ thuộc về bộ phim tài liệu ngắn Nước về Bắc Hưng Hải của đạo diễn Bùi Đình Hạc. Đây đồng thời là tác phẩm của một nhà làm phim người Việt đầu tiên đoạt giải quốc tế, khi được trình chiếu tại Liên hoan phim Quốc tế Moscow năm 1959 và giành Huy chương vàng hạng mục phim tài liệu.
Cũng trong kỳ liên hoan ấy, Chung Một Dòng Sông của đạo diễn Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Kỳ Nam được lựa chọn cho hạng mục tranh giải chính thức. Bốn năm sau, đạo diễn Phạm Kỳ Nam trở lại Moscow với Chị Tư Hậu và mang về một Giải Bạc.
Đối với điện ảnh miền Bắc trong giai đoạn này, con đường ra quốc tế gắn chặt với các mối quan hệ ngoại giao trong khối xã hội chủ nghĩa. Những tác phẩm được nhà nước sản xuất thường xuyên góp mặt tại các liên hoan phim quốc tế như Moscow, Karlovy Vary, Tashkent, và thường xoay quanh chủ đề kháng chiến và giải phóng dân tộc, như Chim vành khuyên của đạo diễn Nguyễn Văn Thông (Giải Đặc biệt của Ban giám khảo hạng mục phim ngắn tại LHP Karlovy Vary năm 1962) hay Nguyễn Văn Trỗi của đạo diễn Bùi Đình Hạc và Lý Thái Bảo (trình chiếu tại LHP Moscow năm 1967).
Điện ảnh miền Nam khi này cũng dần bước ra quốc tế. Bộ phim Người con của biển cả nhận Giải điện ảnh trẻ cho phim ngắn xuất sắc tại LHP Berlin năm 1960. Con búp bê nhồi bông giành một giải Đặc biệt ở Hạng mục phim ngắn tại LHP Á châu Tokyo năm 1966. Đôi mắt người xưa, tác phẩm quy tụ những tên tuổi hàng đầu nền giải trí miền Nam thời điểm đó như minh tinh Kiều Chinh và Thanh Nga hay nhạc sĩ Y Vân, mang về giải Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại LHP Châu Á Seoul năm 1964 cho nghệ sĩ Xuân Dung.
Sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam trong điện ảnh quốc tế dần khoác lên một diện mạo mới. Cánh đồng hoang của đạo diễn Hồng Sến giành Giải Vàng tại LHP Moscow năm 1981. Ba năm sau, Bao giờ cho đến tháng Mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh mang đến cho khán giả quốc tế những góc nhìn đầu tiên về một điện ảnh Việt Nam thi vị hơn, thêu dệt chủ đề thời chiến với góc nhìn điện ảnh chiêm nghiệm trữ tình. Bộ phim nhận Giải Đặc biệt của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Quốc tế Hawaii và Giải của Ủy ban Hòa bình Xô viết tại Moskva.
Và rồi tới thời kỳ Đổi Mới. Những cải cách về kinh tế, văn hóa, chính trị đã thay đổi đột phá bộ mặt đất nước, song riêng nền điện ảnh Việt Nam hậu bao cấp lại rơi vào một cuộc khủng hoảng (dẫn tới thời kỳ phim “mì ăn liền”). Trong những năm tháng đó, sự hiện diện của Việt Nam tại các liên hoan phim quốc tế phần lớn được duy trì bởi những nhà làm phim Việt kiều.
Đạo diễn Trần Anh Hùng trở thành gương mặt tiêu biểu nhất của thời kỳ này. Bộ phim đầu tay của ông, Mùi đu đủ xanh, giành giải Máy quay Vàng và giải thưởng Điện ảnh trẻ tại hạng mục Nhãn quan độc đáo đầy danh giá ở LHP Cannes năm 1993. Hai năm sau, Xích lô đem về cho ông giải Sư tử vàng dành cho phim hay nhất tại LHP Venice.
Còn ở bên kia bờ Đại Tây Dương, đạo diễn Tony Bùi tạo nên tiếng vang với Ba mùa, bộ phim đầu tiên trong lịch sử giành cùng lúc Giải Giám khảo và Giải Khán giả tại LHP Sundance năm 1999. (Bộ phim đồng thời giành giải Quay phim xuất sắc nhất.)
Chính trong những năm tháng ấy, các trường điện ảnh trong nước đang ươm mầm một thế hệ nhà làm phim mới. Tới những năm 2000, những đạo diễn sẽ bắt đầu bước ra biển lớn, tận dụng các chương trình dự án và quỹ phát triển quốc tế để kể những câu chuyện độc lập đậm tính cá nhân.
Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên giành giải Ba của Cinéfondation của LHP Cannes năm 2000 với phim tốt nghiệp Cuốc xe đêm, và rồi mang về giải FIPRESCI tại LHP Venice cho Chơi vơi năm 2009. Bi, đừng sợ! của đạo diễn Phan Đăng Di ra mắt tại Tuần lễ Phê bình ở LHP Cannes năm 2010 và nhận giải ACID/CCAS và SCAD. Đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp đưa Đập cánh giữa không trung tới Busan, rồi Toronto, rồi Venice, nơi bộ phim giành giải FEDEORA cho phim xuất sắc tại Tuần lễ phê bình.
Những nhà tiên phong của mô hình mới này dần trở thành những người thầy cô và cố vấn, tạo bệ phóng cho một thế hệ đạo diễn mới và mở đường cho một giai đoạn bùng nổ của điện ảnh Việt Nam tại sân chơi quốc tế. Đó là Vợ Ba của đạo diễn Ash Mayfair giành giải Phim châu Á hay nhất của NETPAC tại LHP Toronto năm 2018. Là Bên trong vỏ kén vàng của đạo diễn Phạm Thiên Ân giành Caméra d'Or tại LHP Cannes năm 2023. Là Cu Li không bao giờ khóc của đạo diễn Phạm Ngọc Lân nhận giải Phim đầu tay xuất sắc tại LHP Berlin năm 2024. Là Trong lòng đất của đạo diễn Trương Minh Quý góp mặt tại hạng mục Nhãn quan độc đáo ở LHP Cannes năm 2024. Và là nhiều dự án khác vẫn đang được phát triển mỗi năm tại các đại hội điện ảnh danh giá này.
Tại sao cần liên hoan phim?
Hỏi bất kỳ nhà làm phim nào ngày nay, ở Việt Nam hay một nền điện ảnh khác, và ngoại trừ một số ít ỏi các đạo diễn đang làm phim bom tấn được studio lớn chống lưng, có lẽ họ sẽ đều nói rằng họ muốn bộ phim của mình được chiếu tại một liên hoan phim.
Nhưng tại sao?
Một bộ phim bom tấn đôi khi có ngân sách marketing ngang ngửa với chính chi phí sản xuất. Một nhà làm phim độc lập sẽ chẳng thể nào cạnh tranh nổi. Vậy nên, các liên hoan phim chính là cách để các tác phẩm nhỏ có đôi chút cơ hội chiến đấu sòng phẳng với các “ông lớn”.
Điện ảnh Việt Nam cũng vậy. Thị trường chiếu rạp trong nước vẫn luôn ưu ái những tác phẩm “dễ xem, dễ làm”, những bộ phim kinh dị hoặc hài - tình cảm - gia đình. Những tác phẩm có nhịp độ chậm hơn, hình thức thử nghiệm hơn hoặc không tuân thủ những quy luật tự sự truyền thống thường phải chật vật để duy trì được suất chiếu. Việc được lựa chọn cho một liên hoan phim quốc tế có thể làm thay đổi điều này. Ba chữ “chiếu tại Cannes” đôi khi còn hiệu quả hơn ba tháng trời quảng cáo. Chính tệp khán giả từng ngó lơ một tác phẩm độc lập xa lạ, nay bỗng trở nên tò mò khi bộ phim ấy mang trên mình những giải thưởng quốc tế. Và những nhà phát hành trong nước cũng có thể sẽ “ưu ái” hơn các bộ phim vốn bị coi là vô vọng về mặt thương mại.
Hơn nữa, liên hoan phim, từ lâu, còn là nơi những tài năng mới được phát hiện. Thế giới lần đầu biết đến Quentin Tarantino và Ryan Coogler tại LHP Sundance. LHP Berlin và Venice từng là bệ phóng đưa Trương Nghệ Mưu hay Kore-eda Hirokazu ra ánh sáng quốc tế, trong khi Cannes chứng kiến sự vươn lên của Steven Spielberg hay Vương Gia Vệ. Christopher Nolan cũng bắt đầu từ LHP Raindance. Và như đã đề cập, không ít nhà làm phim người Việt cũng bắt đầu hành trình điện ảnh tại các liên hoan quốc tế.
Liên hoan phim quốc tế càng quan trọng hơn đối với những nhà làm phim trẻ của nước ta. Nền điện ảnh Việt Nam vẫn chưa thực sự có những khoản quỹ và kênh hỗ trợ đủ lớn cho những dự án nằm ngoài dòng chảy của “phim thương mại”. Một đạo diễn trẻ khó có thể hy vọng tìm được xưởng phim trong nước sẵn sàng đầu tư một tác phẩm dài ba tiếng chiêm nghiệm về hiện sinh, song ở một liên hoan phim quốc tế, đặc biệt nơi có những vườn ươm dự án như L'Atelier de la Cinéfondation của Cannes, Locarno Open Doors, Asian Cinema Fund của Busan, họ có thể thấy một quỹ phát triển điện ảnh sẵn sàng tài trợ, một nhà sản xuất quốc tế sẵn sàng đồng hành cùng dự án, một phòng rạp sẵn sàng trình chiếu bộ phim khi nó được hoàn thành.
Và vẫn còn đó một lý do nữa.
Từ rất lâu, Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên xuất hiện trên màn ảnh thế giới, song lại hiếm khi có tiếng nói trong cách chúng ta được khắc họa. Trong mắt khán giả quốc tế, Việt Nam trong một thời gian dài mặc định là chiến tranh, là rừng núi nhiệt đới tàn khốc, là những làng mạc và bờ biển được vẽ bằng sắc điệu chuộng lạ và khao khát của chủ nghĩa thực dân. Tất cả câu chuyện được kể bởi một nhân vật ngoại quốc: một người lính Mỹ, một điền chủ người Pháp,...
Bộ phim tiểu luận của đạo diễn Nguyễn Trinh Thi khắc họa quá rõ nét điều này khi tổng hợp những mảnh ghép về Việt Nam từ các tác phẩm điện ảnh phương Tây. Từ Apocalypse Now, The Deer Hunter, Born on the Fourth of July, Forrest Gump đến Indochine và L’Amant, rồi những bộ phim của Werner Herzog và Jean-Luc Godard, sự hiện diện của Việt Nam trong điện ảnh phần nhiều được dựng lại qua góc nhìn của người nước ngoài.
Đây cũng chính là nơi các liên hoan phim quốc tế trở nên đặc biệt quan trọng đối với điện ảnh Việt Nam. Chúng trao cho những đạo diễn đương đại một không gian để giành lại quyền tự chủ trong việc khắc họa Việt Nam lên màn ảnh.
Khi Bên trong vỏ kén vàng hay Cu Li không bao giờ khóc được chiếu tại Cannes hay Berlin, những tác phẩm này góp phần thay thế các thành kiến rập khuôn về một Việt Nam nào đó đã tồn tại nhiều thập kỷ trong điện ảnh bằng những góc nhìn chân thực hơn. Những bộ phim ấy nói với khán giả toàn cầu rằng Việt Nam không chỉ là một tấm phông nền để làm bối cảnh phim.; rằng người Việt không phải là những diễn viên quần chúng đứng phía sau một nhân vật chính ngoại quốc; rằng Việt Nam là một nơi chốn đa diện về văn hóa lịch sử, và xứng đáng được kể bởi những người thuộc về nơi chốn ấy.
Tạm kết
Liên hoan phim Quốc tế Busan năm 2026 đã, lựa chọn năm bộ phim Việt Nam cho bốn hạng mục khác nhau: 1982 (đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp) cho hạng mục Vision, Thính giác (đạo diễn Lê Bảo) và Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh (đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình) cho A Window on Asian Cinema, Sợi chỉ đỏ (đạo diễn Hàm Trần) cho Midnight Passion, và Em bé đồng bóng, em bé ngạo nghễ và em bé đau lòng (đạo diễn Nông Nhật Quang) cho hạng mục Documentary. và Red Thread của Hàm Trần. Ngoài ra, nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc được làm thành viên ban giám khảo của liên hoan phim, dưới sự chủ trì của đạo diễn Trung Quốc kỳ cựu Trương Nghệ Mưu.
Đây là một cột mốc quan trọng. Và khi nhìn vào, có lẽ chúng ta lại một lần nữa nhớ rằng lý do sau cùng của hành trình ròng rã bảy thập kỷ của điện ảnh Việt Nam tới các liên hoan phim quốc tế, không phải là những thảm đỏ hào nhoáng hay những tràng pháo tay kéo dài nhiều phút đồng hồ. Sau cùng, liên hoan phim quốc tế cho những nhà làm phim Việt Nam được kể câu chuyện của họ với thế giới. Và sâu xa hơn, liên hoan phim quốc tế cho Việt Nam được tả về Việt Nam sau biết bao lâu làm chủ thể trong câu văn của người khác, cho chúng ta được tự cầm máy quay và quay bộ phim của mình.