Hai kỳ nghỉ dài trong chưa đầy nửa năm: Có phải người lao động Việt đang nghỉ ngơi quá nhiều?

Câu trả lời là: Không.
Thanh Trúc
Nguồn: Unplash

Nguồn: Unplash

Kỳ nghỉ lễ vừa qua, không ít người đã tự tạo cho mình một cái “Tết thứ hai” bằng cách nối phép năm, work from home hoặc linh hoạt lịch cá nhân để biến chuỗi nghỉ Giỗ Tổ – 30/4 – 1/5 thành kỳ nghỉ kéo dài đến 9 ngày. Với nhiều người, đó là một khoảng thở hiếm hoi giữa năm: không phải dọn dẹp, cúng kiếng, tiếp khách như Tết Nguyên đán, chỉ đơn giản là được ngủ thêm, đi chơi, hoặc không làm gì cả.

Và rồi, như thường lệ, mạng xã hội hoặc tự mỗi cá nhân lại xuất hiện hai luồng suy nghĩ quen thuộc. Một bên than rằng nghỉ dài thế nhưng vẫn chưa đủ, đầu óc vẫn mắc kẹt ở resort hay quê nhà. Bên còn lại đặt câu hỏi: “Nghỉ nhiều thế này có quá không?”.

Nếu nhìn ra thế giới, Việt Nam không nghỉ dài hơi như ta tưởng!

Thoạt nhìn, lịch nghỉ lễ của Việt Nam có thể tạo cảm giác dài và còn khá “lủng củng”. Những ngày nghỉ nằm rải rác, đôi khi được nối bằng nghỉ bù, đôi khi lại tạo ra những quãng làm việc ngắt nhịp giữa tuần. Thực tế, trường hợp của Việt Nam không hề lạ vì rất ít quốc gia để lịch nghỉ lễ vận hành hoàn toàn ngẫu nhiên. Ở nhiều nơi, chính phủ chủ động “thiết kế” nhịp nghỉ trong năm như một công cụ quản trị kinh tế và lao động, đồng thời tăng cường sức mua sắm cho dịp lễ dài.

Trung Quốc là ví dụ “cực đoan” nhất. Ngoài Tết Nguyên đán, nước này còn có những “Tuần lễ Vàng” vào dịp Quốc khánh khi các kỳ nghỉ kéo dài tới 7 ngày. Dù người lao động nghỉ dài hơn nhưng phải đi làm bù vào cuối tuần trước hoặc sau đó. Đây là cách chính phủ kích cầu du lịch và tiêu dùng nội địa ở quy mô khổng lồ, dù cái giá phải trả là nhiều người phải trải qua những tuần làm việc 6 đến 7 ngày liên tiếp.

Nhật Bản thì tinh chỉnh lịch nghỉ theo hướng mềm mại hơn. Nhiều ngày lễ quốc gia được cố định vào thứ Hai thay vì một ngày dương lịch cụ thể, nhằm đảm bảo người dân có các kỳ nghỉ cuối tuần kéo dài. Luật nước này thậm chí còn quy định rằng nếu một ngày làm việc bị kẹp giữa hai ngày lễ, nó tự động trở thành ngày nghỉ. Cơ chế này đã tạo nên những “Tuần lễ Vàng” hay “Tuần lễ Bạc” nổi tiếng của người Nhật.

Ở Mỹ và Anh, triết lý tương tự cũng xuất hiện dưới hình thức khác. Nhiều ngày lễ được dời về thứ Hai để tránh ngắt quãng giữa tuần, tạo ra những kỳ nghỉ ba ngày ổn định giúp người lao động dễ lên kế hoạch. Trong khi đó, tại Tây Ban Nha và nhiều nước Mỹ Latinh, người dân có cả một khái niệm riêng cho việc “bắc cầu” ngày nghỉ: nếu lễ rơi vào thứ Ba hoặc thứ Năm, họ sẽ tìm cách nối luôn với cuối tuần để biến nó thành một quãng nghỉ dài hơn.

Song song với nghỉ lễ là nghỉ phép năm. Ở phần lớn châu Âu, nghỉ phép có lương không phải phúc lợi mà là quyền lao động bắt buộc tối thiểu 20 ngày mỗi năm, nhiều nước còn cao hơn.

Pháp nổi tiếng với văn hóa nghỉ hè kéo dài nhiều tuần; Nhật dù người lao động ngại nghỉ đến mức chính phủ phải buộc doanh nghiệp cho nhân viên dùng phép; còn Mỹ vẫn là ngoại lệ hiếm hoi trong thế giới phát triển khi không có luật liên bang bắt buộc doanh nghiệp phải cấp ngày nghỉ phép có lương.

Điều này cho thấy thực tế ở nhiều quốc gia hiện đại, nghỉ ngơi đã trở thành thứ được pháp luật và chính sách công chủ động sắp đặt, bảo vệ, thậm chí tối ưu hóa.

Và điều đó chỉ xảy ra bởi trong phần lớn lịch sử nhân loại, nghỉ ngơi chưa từng là điều mặc định.

Nghỉ ngơi từng là đặc quyền không dành cho người lao động

Trong phần lớn lịch sử nhân loại, đại đa số con người lao động theo nhịp mùa vụ hoặc lao động tự cung tự cấp. Họ không có khái niệm “văn phòng”, cũng không có bảng chấm công.

Một số nhà sử học và nhân chủng học cho rằng trước thời công nghiệp, nhiều cộng đồng nông nghiệp hoặc săn bắt, hái lượm có thể dành ít giờ hơn cho lao động tạo ra lương thực so với số giờ làm công sở hiện nay. Giáo sư Juliet Schor từng ước tính một nông dân Anh thế kỷ 14 có thể chỉ làm khoảng 1.500 giờ lao động nông nghiệp mỗi năm, nhờ nhịp sống mùa vụ và số lượng ngày lễ tôn giáo dày đặc.

Nhưng những con số ấy không đồng nghĩa tổ tiên chúng ta sống nhàn nhã hơn. Chúng chủ yếu phản ánh thời gian dành cho lao động sản xuất trực tiếp, chứ không tính hết vô số công việc duy trì sự sống: chuẩn bị thực phẩm, lấy nước, sửa nhà, chăm trẻ, chăm người già, quản lý gia súc, duy trì cộng đồng.

Người hiện đại cũng không xa lạ gì với “lao động sinh tồn”, chỉ là hình thức của nó đã thay đổi thành chăm sóc nhà cửa, nuôi dạy con cái, trau dồi bản thân thậm chí là làm việc thứ hai, tăng ca, hoặc gánh toàn bộ “mental load” của một đời sống ngày càng phức tạp.

Điều khác biệt là trước thời hiện đại, công việc và đời sống thường đan cài vào nhau theo nhịp mùa vụ, ánh sáng mặt trời và nhu cầu sinh tồn. Chỉ đến Cách mạng Công nghiệp, lao động mới bị nén lại thành một cấu trúc gần với trải nghiệm hiện đại nhất: giờ giấc cố định, kỷ luật nhà máy, năng suất đo đếm được.

Và ở giai đoạn đầu của quá trình ấy, cái giá mà người lao động phải trả là cực lớn. Công nhân tại Anh và Mỹ thế kỷ 19 thường làm 10–16 tiếng mỗi ngày, 6 ngày một tuần, gần như không có nghỉ phép, không cuối tuần đúng nghĩa và cũng chưa tồn tại khái niệm “work-life balance”.

Những gì ngày nay ta coi là tối thiểu như: tuần làm 44 giờ, nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ, nghỉ phép năm…đều là thành quả đến sau hàng thập kỷ đình công, biểu tình và đấu tranh của phong trào lao động.

Chúng ta làm ít giờ hơn tổ tiên, nhưng vẫn thấy mình luôn bận rộn

Nếu chỉ đo bằng số giờ lao động chính thức, con người hiện đại ở nhiều quốc gia thực sự đang làm ít hơn đáng kể so với tổ tiên thời đầu công nghiệp hóa. Nhưng cảm giác phổ biến của thời đại này lại là “không bao giờ có đủ thời gian”.

Đó là nghịch lý của năng suất hiện đại.

Khi công nghệ giúp chúng ta làm việc hiệu quả hơn, phần thời gian tiết kiệm được hiếm khi biến thành nghỉ ngơi. Nó thường được tái đầu tư thành nhiều đầu việc hơn, nhiều kỳ vọng hơn, nhiều khả năng phải phản hồi hơn. Một email gửi đi trong 5 phút có thể kéo theo chuỗi trao đổi suốt cả ngày. Một chiếc laptop giúp làm việc ở mọi nơi cũng đồng nghĩa công việc có thể theo ta đến mọi nơi.

Vấn đề của lao động hiện đại không còn chỉ là “làm quá nhiều giờ”, mà là công việc ngày càng xâm chiếm mọi khoảng trống giữa những giờ đó.

Ta không chỉ làm việc tại bàn làm việc. Ta nghĩ về việc khi đang ăn tối. Ta trả lời tin nhắn công việc trên xe buýt. Ta kiểm tra email lúc 11 giờ đêm “cho chắc”. Ta đem theo cảm giác phải hữu ích kể cả trong thời gian nghỉ.

Thế nên mới có nghịch lý: dù lịch làm việc của con người hiện đại trên giấy tờ nhân văn hơn rất nhiều so với tổ tiên, rất nhiều người vẫn mang cảm giác rằng mình chưa bao giờ thực sự được nghỉ.

Đằng sau tâm lý tội lỗi khi “lỡ” nghỉ quá nhiều

Một trong những dấu hiệu rõ nhất của văn hóa năng suất là việc con người hiện đại không chỉ làm việc nhiều mà còn thấy áy náy khi không làm việc.

Nhiều người cảm thấy nghỉ vài ngày không làm gì sẽ quen với biếng nhác. Có người thấy cần “chuộc lỗi” sau một kỳ nghỉ bằng cách tăng tốc. Ta đùa nhau rằng nghỉ lâu quá là “quên cách làm việc”.

Nếu nhìn từ lịch sử lao động, điều đó khá trớ trêu. Bởi nghỉ lễ là thành quả của một quá trình dài để xã hội thừa nhận rằng con người không sinh ra chỉ để tối ưu hóa năng suất.

Giá trị của quyền được nghỉ càng rõ hơn khi nhìn sang những xã hội nơi ranh giới giữa lao động và đời sống ngày càng mờ nhạt. Tại Trung Quốc, mô hình làm việc “996” (9 giờ sáng đến 9 giờ tối, 6 ngày/tuần) từng trở thành biểu tượng cho văn hóa tăng trưởng bằng mọi giá; ở Nhật Bản, hiện tượng karoshi (tử vong do làm việc quá sức) nghiêm trọng đến mức buộc chính phủ phải nhiều lần siết luật lao động. Một tuần làm việc 72 giờ như 996, nếu đặt cạnh lịch sử, đã tiệm cận cường độ lao động từng thấy ở giai đoạn khắc nghiệt nhất của Cách mạng Công nghiệp.

Trong bối cảnh ấy, khả năng thật sự ngắt kết nối suốt nhiều ngày liền là điều hiếm hơn ta tưởng. Và dù Việt Nam còn xa mới là hình mẫu hoàn hảo khi bàn về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, những kỳ nghỉ dài ít nhất vẫn cho thấy chúng ta chưa hoàn toàn từ bỏ niềm tin rằng làm việc hiệu quả và nghỉ ngơi tử tế không phải hai giá trị đối lập.

Vì nghỉ ngơi, ở góc độ pháp lý và kinh tế hiện đại, là điều kiện cần để con người tiếp tục làm việc bền vững.

Có lẽ câu hỏi không phải là “Việt Nam nghỉ có nhiều quá không?”

Khi nhiều người vẫn ngại dùng hết phép năm, vẫn check email trong kỳ nghỉ, vẫn xem nghỉ ngơi như một thứ phải “xứng đáng mới được hưởng”, câu hỏi nên là: liệu chúng ta đã thật sự biết cách nghỉ?

Và khi nhìn lại lịch sử dài của những cuộc đấu tranh để con người được làm ít hơn, nghỉ nhiều hơn, sống như một con người thay vì một cỗ máy, có lẽ điều hợp lý nhất ta có thể làm sau một kỳ nghỉ dài là tận hưởng cảm giác hồi phục với một chút tự hào.

Với 12 ngày phép năm luôn sẵn có và những quy định bảo vệ quyền được nghỉ ngơi, người lao động Việt Nam đang có những công cụ tốt nhất để cân bằng cuộc sống. Nửa năm còn lại, Việt Nam sẽ có kỳ nghỉ Quốc Khánh và 1 ngày nghỉ nhân ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động Việt sẽ càng có lý do để hăng hái làm việc từ hôm nay.


Xem phiên bản đầy đủ

Xem nhiều nhất

Cùng chuyên mục