Nhân ngày 3 tháng 2: Giải ngố 5 hiểu lầm phổ biến về Đảng Cộng sản Việt Nam

Ảnh chụp lại tranh của họa sĩ Phi Hoanh về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Nguồn: Báo Nhân Dân
Trình môn Lịch sử Đảng dù cao hay thấp thì trong thực tế, 5 hiểu lầm sau đây vẫn khá phổ biến:
1. Đảng viên chỉ toàn những người có tuổi, các bậc trưởng lão!
Thực tế là, Đảng viên trẻ nhất hiện nay có thể vừa tốt nghiệp PTTH, nghĩa là 18 tuổi.
Năm 1945, sau 15 năm thành lập, Đảng đã có khoảng 5.000 Đảng viên; và số lượng đại biểu dự Đại hội I là 13 đại biểu - ít hơn cả một lớp học Mầm non.
Nhưng chính từ nhóm “nhỏ mà chất” ấy, Cách mạng Tháng Tám đã ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước.
"Tua nhanh" đến hôm nay: Ở các kỳ Đại hội gần đây, số đại biểu đã vượt 1.500 người, đại diện cho hơn 5,6 triệu Đảng viên khắp cả nước.
Ủy viên Trung ương là vị trí quan trọng trong hệ thống lãnh đạo của Đảng, trực tiếp tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Các vị trí này được bầu ra tại Đại hội Đảng.
Số lượng Ủy viên Trung ương thường khoảng 150-180 người. Ủy viên Trung ương trẻ nhất hiện nay là Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1987, hiện đang giữ chức Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV và là một trong những lãnh đạo trẻ triển vọng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Đại hội Đảng luôn diễn ra ở Thủ đô Hà Nội, 5 năm 1 lần!
Thực tế là Đại hội Đảng lần thứ nhất không diễn ra trong lãnh thổ Việt Nam. Và có giai đoạn, khoảng cách giữa hai kỳ Đại hội kéo dài tới 16 năm.
Ít ai ngờ rằng, Đại hội I (1935) lại được tổ chức tại Ma Cao (Trung Quốc) chứ không phải trong nước. Thời điểm năm 1930-1931, phong trào Cách mạng Việt Nam bị khủng bố nặng nề. Vì vậy, việc tổ chức một Đại hội quy mô trong nước là vô cùng mạo hiểm. Chọn Ma Cao là cách để giữ an toàn cho tổ chức, đồng thời đánh dấu sự phục hồi của Đảng sau giai đoạn bị đàn áp. Một Đại hội ở nước ngoài nhưng lại mở ra bước ngoặt lớn.
Về thời gian, hiện giờ, ai cũng quen với việc Đại hội Đảng tổ chức 5 năm một lần. Nhưng thời chiến, mọi thứ đều phải “linh hoạt”. Khoảng cách giữa hai kỳ Đại hội III đến Đại hội IV kéo dài tới 16 năm (1960 - 1976).
Chu kỳ 5 năm chỉ thực sự ổn định khi đất nước bước vào thời kỳ hòa bình và phát triển. Nói cách khác, lịch Đại hội cũng phản ánh rất rõ nhịp đi của lịch sử. Đại hội không chỉ để đặt ra "KPI" mới, mà còn là dịp "review" chặng đường đã qua, không chỉ là một sự kiện chính trị mang tính nghi lễ, mà còn có tầm nhìn chiến lược.
Mỗi kỳ Đại hội đều để lại dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, ví dụ Đại hội VI (1986) khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, triệt để, Đại hội XII (2016) tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh...
Vì vậy, có thể nói, Đại hội Đảng một quá trình chuẩn bị dài hơi, chứ không phải một sự kiện “đến hẹn cứ 5 năm là họp”. Hiểu đúng về Đại hội Đảng cũng chính là hiểu cách đất nước được định hướng, vận hành và phát triển.
3. Bộ Chính Trị cũng là một Bộ!
Bộ Chính Trị không phải là một "Bộ" theo nghĩa hành chính như Bộ Y tế hay Bộ Giáo dục. Nó là cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, khác với các cơ quan nhà nước (Bộ) thực hiện quản lý nhà nước.
Bộ Chính Trị, có thể coi là "BOD - Board of Directors" của Đảng, là Cơ quan lãnh đạo cao nhất, đưa ra quyết định quan trọng về định hướng chính trị, chiến lược phát triển đất nước, lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Trong khi Các Bộ (của Chính phủ) là các cơ quan hành chính nhà nước, chịu trách nhiệm quản lý một ngành, theo pháp luật, thì Bộ Chính Trị là cơ quan lãnh đạo Đảng.
4. Người ta hay nói đến "tứ trụ" nắm quyền lực cao nhất
Thực tế là… "Ngũ trụ" chứ không phải tứ.
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, “Ngũ trụ” là cách gọi ngắn gọn 5 chức danh lãnh đạo cao nhất, gồm: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư. Đây đều là những vị trí then chốt nên tiêu chuẩn lựa chọn cũng rất khắt khe.
Điểm chung của cảc chức danh là: phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, có uy tín cao, đóng vai trò trung tâm đoàn kết trong Trung ương, trong Đảng và trong nhân dân, và đặc biệt tất cả phải đã kinh qua các vị trí lãnh đạo cấp cao và là Ủy viên Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.
Ai được bầu vào “Ngũ trụ”?
Cụ thể hơn, mỗi vị trí lại có những yêu cầu riêng:
Tổng Bí thư là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, quyết đoán; hiểu biết sâu rộng các lĩnh vực trọng yếu; có năng lực lãnh đạo toàn diện Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược.
Chủ tịch nước cần có năng lực toàn diện, nổi bật về đối nội, đối ngoại, quốc phòng - an ninh và tư pháp.
Thủ tướng là người giỏi điều hành và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; tư duy nhạy bén, quyết đoán, am hiểu sâu về hành chính nhà nước và hội nhập quốc tế.
Chủ tịch Quốc hội phải có năng lực nổi bật trong xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; hiểu biết sâu về hệ thống pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Thường trực Ban Bí thư phải có tư duy lý luận chính trị sắc sảo; am hiểu sâu rộng các lĩnh vực then chốt; giàu kinh nghiệm trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; nhạy bén, quyết liệt trong điều hành và có năng lực điều phối hiệu quả hoạt động của các cơ quan tham mưu, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
5. Văn kiện Đại hội Đảng là tài liệu được phát kèm cho các đại biểu trong mỗi kỳ Đại hội, tóm tắt các bài phát biểu, báo cáo của các đại biểu trong đại hội?
Không, quan trọng hơn như vậy nhiều: Văn kiện Đại hội Đảng là “bản đồ tổng” của cả nhiệm kỳ, bao gồm tất cả các báo cáo, nghị quyết, quyết định và các văn bản khác.
Nếu ví luật và nghị quyết như những tuyến đường cụ thể, thì Văn kiện Đại hội chính là tấm bản đồ tổng thể. Đây không chỉ là tài liệu mang tính định hướng, mà còn có giá trị chiến lược lâu dài, thậm chí bao trùm hơn nhiều đạo luật hay nghị quyết riêng lẻ. Từ Văn kiện Đại hội, Quốc hội có cơ sở xây dựng pháp luật, Chính phủ hoạch định và điều hành chính sách phát triển, còn các cấp ủy Đảng thì cụ thể hóa thành chương trình hành động phù hợp với từng ngành, từng địa phương.
Nói cách khác, Văn kiện Đại hội chính là “kim chỉ nam” cho toàn bộ hệ thống chính trị trong suốt một nhiệm kỳ và cả những năm tiếp theo. Các văn kiện Đại hội không chỉ nói về nhiệm kỳ trước mắt, mà còn xác định mục tiêu 10 năm, tầm nhìn 20, 30 năm, định hướng lớn cho kinh tế, văn hóa, quốc phòng, đối ngoại và xây dựng hệ thống chính trị. Không ít quyết sách được thông qua tại Đại hội đã trở thành nền tảng cho sự phát triển của đất nước suốt nhiều thập kỷ.