6 phút trướcVăn HóaPhim Ảnh

Phim hoạt hình Việt Nam: Có truyền thống, có năng lực, còn thiếu tác phẩm định hình cột mốc mới?

Nhân ngày hoạt hình thế giới (28/10), cùng nói về hoạt hình Việt Nam.
Thanh Trúc
Nguồn: Tổng hợp

Nguồn: Tổng hợp

Hoạt hình Việt nam đã có gì?

Đâu là ngày đầu tiên của hoạt hình Việt Nam?

Có người sẽ chọn ngày 09/11/1959 – thời điểm lớp học vẽ phim hoạt hình đầu tiên chính thức khai giảng tại Hà Nội. Có người lại lấy mốc năm 1960, khi Đáng đời thằng cáo – tác phẩm hoạt hình đầu tiên của nước nhà – cất tiếng khóc chào đời. Hoặc giả, khởi điểm ấy đã âm thầm nhen nhóm từ nhiều năm trước đó, vào khoảnh khắc những nghệ sĩ trẻ đầu tiên nhận lệnh lên đường sang xứ người tầm sư học đạo.

Ngay từ buổi bình minh, hoạt hình Việt Nam đã thành hình qua nhịp cầu tiếp thu điện ảnh quốc tế. Vào thập niên 1950, những thước phim hoạt hình Liên Xô chiếu tại miền Bắc đã thắp lên nguồn cảm hứng mãnh liệt cho giới làm nghề. Các nghệ sĩ tiên phong như Lê Minh Hiền, Trương Qua, Ngô Mạnh Lân lần lượt sang Liên Xô học tập tại xưởng phim huyền thoại Soyuzmultfilm; đạo diễn Nguyễn Tích, nghệ sĩ quay phim Đồ Trần Hiệt sang Tiệp Khắc để tiếp thu kỹ thuật làm phim rối. Trở về nước, họ mang theo không chỉ kỹ thuật mà cả một ngọn lửa nghề, cùng nhau xây dựng đội ngũ và trực tiếp truyền dạy cho các thế hệ sau ngay tại Xưởng phim Hoạt hình Việt Nam, nơi việc học nghề diễn ra song hành cùng từng nét vẽ thực chiến bên bàn làm việc.

Mùa đông năm 1959, tại căn gác nhỏ số 72 Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), một nhóm vẻn vẹn sáu họa sĩ dưới sự dẫn dắt của họa sĩ Lê Minh Hiền và họa sĩ Trương Qua bắt tay vào thực hiện bộ phim đầu tiên trong điều kiện ngặt nghèo: thiếu giấy bóng kính chuyên dụng, họ phải lấy từng tờ giấy pelure mỏng manh, tỉ mẩn xử lý qua dầu hỏa để tạo độ trong suốt; không có bàn hắt sáng, họ tận dụng từng khung cửa kính đón ánh sáng tự nhiên để can hình. Sau gần một năm lao động miệt mài, Đáng đời thằng cáo ra đời vào năm 1960. Dù kỹ thuật còn thô sơ và mang đậm hơi thở tuyên truyền thời chiến, tác phẩm đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho một ngành nghệ thuật mới trên bản đồ điện ảnh dân tộc.

Những tác phẩm tiếp theo nhanh chóng khẳng định sự đa dạng và khả năng làm chủ kỹ thuật của các nhà làm phim Việt. Năm 1962, Thỏ đi học của Nguyễn Tích mang đến câu chuyện ngụ ngôn trong sáng; cùng năm đó, Chiếc vòng bạc của Trương Qua tiên phong mở ra kỹ thuật cắt giấy phẳng để kể một câu chuyện cảm động về lòng dũng cảm. Đến năm 1965, Mèo con của đạo diễn Ngô Mạnh Lân xuất sắc đoạt giải Bồ nông Bạc tại Romania, đánh dấu quả ngọt quốc tế sớm của hoạt hình nước nhà. Vài năm sau, Chuyện ông Gióng (1970) ra đời như một đỉnh cao của thể loại hoạt hình rối (stop-motion), đưa chất liệu thần thoại và mỹ thuật dân gian thấm đượm vào ngôn ngữ điện ảnh hiện đại.

Trong suốt những năm tháng khói lửa của cuộc kháng chiến, quá trình sản xuất liên tục bị đứt đoạn bởi bom đạn, sơ tán, thiếu điện và cạn kiệt vật tư. Đã có những đêm nghệ sĩ phải lội bộ hàng cây số đường rừng chỉ để xem lại vài giây phim vừa tráng trên chiếc máy chiếu thô sơ. Thế nhưng, hoạt hình thời kỳ này chưa từng chỉ dừng lại ở vai trò một công cụ tuyên truyền đơn thuần. Trong từng nét tạo hình, nhịp chuyển động và cách dẫn dắt, luôn có những trăn trở nghệ thuật rất riêng. Đạo diễn Ngô Mạnh Lân từng nhắc đến chất thơ trong hoạt hình, thứ giá trị thẩm mỹ thuần khiết có thể vượt thoát khỏi khuôn khổ thông điệp chính trị nhất thời để chạm vào rung cảm lâu bền của khán giả.

Bằng niềm tin trong trẻo và sức sáng tạo bền bỉ ấy, tính đến trước mùa xuân năm 1975, xưởng phim đã cho ra đời khoảng 47 bộ phim hoạt hình thuộc đủ các thể loại từ vẽ tay, cắt giấy đến hoạt hình rối. Con số gần 50 tác phẩm giữa làn mưa bom bão đạn không chỉ là một kỳ tích về sức lao động, mà còn là bản tổng kết kiêu hãnh cho cả một thời kỳ đặt nền móng bằng đôi bàn tay trắng.

Sau ngày thống nhất, hoạt hình Việt Nam bước vào giai đoạn củng cố và phát triển trong hệ thống điện ảnh Nhà nước. Đến thập niên 1990, cùng với làn sóng Đổi mới và mở cửa, một hướng rẽ mới xuất hiện: Việt Nam trở thành điểm đến gia công tiềm năng cho các hãng hoạt hình quốc tế. Hoạt hình từ đây vừa tiếp tục duy trì dòng phim nghệ thuật truyền thống, vừa mở rộng sang vai trò cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu.

Nhìn lại, hoạt hình Việt Nam chưa từng bắt đầu từ một cỗ máy công nghiệp giải trí hoàn chỉnh. Nó khởi đi từ căn phòng chật chội với những trang giấy thấm dầu đơn sơ, tôi luyện qua 47 thước phim thời chiến, và bền bỉ thích nghi qua từng khúc quanh lịch sử. Di sản ấy là sự hòa quyện giữa tinh thần kiên cường của một thế hệ nghệ sĩ - chiến sĩ, vẻ đẹp của văn hóa dân gian và ngọn lửa đam mê được lặng lẽ trao truyền qua nhiều thế hệ.

Hoạt hình Việt Nam hôm nay: Đã có lực, còn thiếu cú hích?

Gần bảy thập kỷ sau những nét vẽ đầu tiên bên khung cửa kính thời chiến, hoạt hình Việt Nam hôm nay đã tích lũy cho mình một nội lực vững vàng hơn rất nhiều so với những định kiến thông thường. Thay vì chỉ là những nỗ lực nhỏ lẻ, ngành hoạt hình đã âm thầm đạt đến một quy mô đáng nể: theo Hiệp hội Kỹ xảo Điện ảnh và Hoạt hình Việt Nam (VAVA), cả nước hiện có 54 studio với hơn 4.700 nhân sự chuyên môn cao. Đáng chú ý, hơn 60% các studio này đã và đang trực tiếp tham gia vào chuỗi sản xuất quốc tế. Người làm phim Việt không còn đứng ngoài rìa công nghệ hay chỉ quanh quẩn ở sân nhà; chúng ta đã thực sự làm chủ kỹ thuật và chứng minh được năng lực gia công, sản xuất ở tầm khu vực.

Nội lực ấy phản chiếu rõ nét qua một bức tranh sáng tạo ngày càng đa diện. Ở mảng nội dung số thương mại, Sconnect tạo nên kỳ tích với hệ sinh thái IP Wolfoo đạt hàng tỷ lượt xem toàn cầu; trong khi Sun Wolf Animation Studio kiên định thổi hồn văn hóa dân gian vào vũ trụ hoạt hình Thỏ Bảy Màu, U Linh Tích Ký, Tản Viên Phong Châu. Những cái tên như Colory Animation hay DeeDee Animation Studio cũng khẳng định vị thế bằng chất lượng mỹ thuật chỉn chu, đóng vai trò cầu nối vững chắc giữa thị trường nội địa và các đối tác quốc tế.

Song song với các studio lớn là sự trưởng thành của những tiếng nói tác giả độc lập, giàu bản sắc. Khán giả thấy một Trịnh Lâm Tùng bền bỉ đưa văn hóa cổ truyền vào Trạng Quỳnh nhí; một Mai Vũ đưa nghệ thuật stop-motion Việt Nam vươn ra thế giới với Giấc mơ gỏi cuốn; hay một Hachul Lê Đỗ táo bạo lồng ghép góc nhìn giới đương đại vào chất liệu dân gian qua Sự tích Trần Thanh Dương. Những thể nghiệm đa dạng này chứng minh hoạt hình Việt đang sở hữu một lớp người làm nghề vừa vững tay nghề, vừa tràn đầy trăn trở nghệ thuật.

Hệ sinh thái nâng đỡ cho các sáng tạo ấy cũng đang dần mở rộng. Từ những sân chơi trong nước như Liên hoan phim Hoạt hình Dòng khát vọng, đến cột mốc Việt Nam lần đầu có gian hàng riêng tại chợ phim MIFA (trong khuôn khổ Liên hoan phim Hoạt hình Quốc tế Annecy 2025), hay các cuộc thi ươm mầm sáng tạo IP dài hạn của VAVA. Rõ ràng, từ nhân lực, kỹ thuật, tư duy bản quyền cho đến cánh cửa hội nhập – thị trường hoạt hình Việt Nam đã chuẩn bị xong những bệ phóng quan trọng nhất.

Thế nhưng, giữa một nền tảng dồi dào sinh lực ấy, công chúng và cả giới làm nghề vẫn khắc khoải một niềm mong mỏi: Bao giờ hoạt hình Việt mới có một tác phẩm lớn?

Một tác phẩm tầm vóc không thể chỉ dừng lại ở thành công đơn lẻ của vài tập phim trực tuyến hay các giải thưởng phim ngắn mang tính thể nghiệm. Đó phải là một tác phẩm điện ảnh chiếu rạp đúng nghĩa, đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với các bom tấn hoạt hình ngoại quốc ngay trên sân nhà, đồng thời tự tin bước ra rạp chiếu quốc tế. Bộ phim ấy cần mang căn tính Việt rõ nét nhưng không tạo rào cản thưởng thức cho khán giả ngoại quốc; có nhân vật sống động, hình ảnh choáng ngợp và một câu chuyện mang tầng bậc cảm xúc đủ phổ quát để bất kỳ ai, ở bất cứ nền văn hóa nào, cũng có thể đồng cảm.

Đây chính là bài toán bản lề của hoạt hình Việt đương đại. Thế hệ tiền bối thời chiến từng chắt chiu từng giọt dầu hỏa, tìm thấy “chất thơ” và tiếng nói nghệ thuật giữa bom đạn ngặt nghèo. Thế hệ hôm nay, khi đã nắm trong tay công nghệ hiện đại và nguồn lực dồi dào, mang trên vai một thử thách mới: bước qua giới hạn của một nền công nghiệp gia công lành nghề để trở thành một nền điện ảnh thực thụ, nơi có những câu chuyện đủ sức làm rung động hàng triệu trái tim.

Ba góc nhìn cho chặng đường phía trước của hoạt hình Việt Nam

Để đi từ một nền gia công lành nghề sang một nền điện ảnh hoạt hình có tiếng nói riêng, ngành hoạt hình Việt Nam không thể chỉ dựa vào lòng nhiệt huyết đơn thuần. Nhìn ra thế giới, có ba câu chuyện mang tính gợi mở sâu sắc về bản sắc, mô hình sản xuất và không gian dung dưỡng sáng tạo.

1. Shanghai Animation: Đổi mới kỹ thuật, tiếp nối căn tính

Hành trình của Shanghai Animation Film Studio là minh chứng điển hình cho việc di sản truyền thống chỉ thực sự sống khi được tái sinh bằng tư duy điện ảnh mới. Từ kỹ thuật hoạt hình cắt giấy độc đáo trong Anh em hồ lô (Calabash Brothers) đến những thước phim hoạt hình thủy mặc huyền thoại, xưởng phim Thượng Hải chưa bao giờ xem văn hóa cổ truyền là một bức tượng bất biến, mà luôn tìm cách biến chất liệu thủ công thành nhịp điệu chuyển động của thời đại.

Tiểu Yêu Quái Núi Lãng Lãng (Nobody, 2025) là sự tiếp nối rực rỡ của tinh thần ấy. Tác phẩm khéo léo hòa trộn những đường nét mực loang, bút pháp ước lệ đậm chất hội họa Á Đông với ngôn ngữ ánh sáng, phối cảnh 3D và nhịp dựng tân kỳ. Không dừng lại ở hình thức, câu chuyện về những tiểu yêu vô danh chốn rừng sâu chạm thẳng vào tâm thức của khán giả hôm nay: nỗi trăn trở của những người bình thường giữa guồng quay xã hội, khát khao thoát khỏi thân phận nhỏ bé để tìm một lối đi riêng.

Việt Nam, với bề dày lịch sử hoạt hình gần 70 năm và kho tàng chất liệu dân gian hàng nghìn năm, hoàn toàn có cơ sở để thực hiện hành trình kế thừa này. Những chất liệu truyền thống từng làm nên đỉnh cao thời kỳ đầu như hoạt hình búp bê, cắt giấy phẳng, hay các di sản mỹ thuật như sơn mài, tranh khắc gỗ Đông Hồ, Hàng Trống... những kỹ thuật làm nên căn tính hoạt hình Việt.

2. Flow: Thoát khỏi cái bóng Hollywood bằng mô hình đồng sản xuất linh hoạt

Thành công vang dội của Flow (đạo diễn Latvia Gints Zilbalodis) – tác phẩm đoạt tượng vàng Oscar Phim hoạt hình xuất sắc nhất năm 2025 – đã đập tan định kiến rằng chỉ có những bom tấn hàng trăm triệu USD của các đại gia Hollywood mới có thể chạm tới đỉnh cao điện ảnh. Một bộ phim hoàn toàn không lời thoại, nhân vật không bóng bẩy, nhưng chinh phục thế giới bằng ngôn ngữ hình ảnh thuần khiết, được thực hiện với kinh phí chỉ khoảng 3,7 triệu USD trên nền tảng phần mềm mã nguồn mở Blender.

Chìa khóa của Flow nằm ở mô hình đồng sản xuất kiểu châu Âu giữa Latvia, Pháp và Bỉ. Bằng cách kết nối nhiều nguồn lực từ các quỹ điện ảnh độc lập, viện trợ công đến đài truyền hình, dự án đã phân tán được rủi ro tài chính mà không một hãng phim đơn lẻ nào dám mạo hiểm gánh vác. Đổi lại cái giá nhiều năm bền bỉ thuyết phục đối tác và điều phối nhân sự đa quốc gia, nhà làm phim giữ trọn được tự do sáng tạo và cá tính nghệ thuật của mình.

Với thị trường Việt Nam – nơi nguồn vốn nội địa dành cho hoạt hình điện ảnh còn dè dặt, trưởng hợp của Flow mở ra một lối thoát chiến lược: Không chạy đua ngân sách, hãy kết nối chuỗi giá trị. Thay vì cố gồng mình sao chép mô hình bom tấn thương mại khép kín, việc chủ động bắt tay đồng sản xuất trong khu vực, tận dụng các nguồn tài trợ văn hóa và làm chủ các công cụ công nghệ tinh gọn sẽ giúp các dự án giàu bản sắc vừa giữ được tiếng nói độc lập, vừa tự tin bước ra thị trường toàn cầu.

3. “Liên hoan phim Rác”: Sức sống từ những sân chơi dám thử sai

Ra đời tại Trung Quốc vào cuối năm 2025, Most Trash Animation Festival (Liên hoan phim Hoạt hình “Rác”) đã đặt ra một phản đề đầy khiêu khích đối với dòng chảy thương mại bóng bẩy: tôn vinh những tác phẩm kỳ quặc, vụng về, kinh phí thấp hoặc nằm ngoài mọi khuôn mẫu thẩm mỹ phổ biến. Những buổi chiếu lưu động không phải để chấm điểm thắng thua, mà là nơi người làm phim gặp gỡ khán giả để thẳng thắn đối thoại về những giá trị nguyên bản nhất của sáng tạo. Hiện tượng Ngưu Lai, với những hạn chế kỹ thuật nhưng vẫn tạo được sức hút riêng, cho thấy khán giả có thể tìm thấy giá trị ở những tác phẩm nằm ngoài thẩm mỹ thông thường.

Việc tự tạo dựng những sân chơi độc lập để người làm nghề dám thử nghiệm, dám làm sai và rút kinh nghiệm là điều kiện tiên quyết cho một thị trường phát triển khỏe mạnh. Những người dám đi đường vòng như KAAKTUN cũng đang cho thấy hoạt hình Việt không hề thiếu những ý tưởng vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường.

Một nền hoạt hình khỏe mạnh không thể chỉ mải miết đi tìm những bom tấn phòng vé hàng trăm tỷ. Nó cần một hệ sinh thái bao dung, một mảnh đất để người trẻ dám thử sai, dám làm những thứ kỳ lạ, dang dở mà không sợ bị phán xét bởi định kiến thị trường. Bởi lẽ, mọi kiệt tác điện ảnh lộng lẫy mai này đều phải bắt đầu từ những nét vẽ ngây ngô, vụng dại nhưng không bị dập tắt ngày hôm nay.


Bài viết được thực hiện với sự hỗ trợ từ nhóm viết “she writes a film blog”.


Xem phiên bản đầy đủ

Xem nhiều nhất

Cùng chuyên mục