Chuyện gì đang xảy ra phía bên kia Địa cầu?
Trong những ngày vừa qua, không khó để bắt gặp trên mạng xã hội hình ảnh người dân Paris chen kín dưới dòng kênh Saint-Martin để tránh cái nóng lên tới 41,9°C. Tại khu đô thị Timmendorfer Strand của Đức, hàng chục nghìn người cũng đổ ra các bãi biển khi nhiệt độ tăng cao bất thường.
Tuy nhiên, đây không còn là câu chuyện của riêng một vài thành phố ở Châu Âu. Đức ghi nhận mức nhiệt kỷ lục 41,5°C tại bang Brandenburg, Thụy Sĩ chạm mốc 38,8°C ở Basel. Trong khi đó, Ba Lan, Áo và Hungary đồng loạt phát cảnh báo nắng nóng ở mức cao nhất.
Nắng nóng cực đoan cũng đang để lại những hậu quả rõ rệt. Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết hơn 1.300 ca tử vong vượt mức bình thường đã được ghi nhận tại châu Âu chỉ trong những ngày đầu của đợt nắng nóng. Ngay cả FIFA cũng thông báo toàn bộ 104 trận đấu của World Cup 2026 sẽ có quãng nghỉ ba phút giữa mỗi hiệp để cầu thủ bổ sung nước. Có thể thấy đây là một quyết định phản ánh mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng thời tiết cực đoan đang diễn ra.
Thế nhưng, điều gây tranh cãi gay gắt không chỉ là những con số kỷ lục xoay quanh vấn đề nhiệt độ ở Âu - Mỹ. Giữa lúc nhiều khu vực ở Tây Âu liên tục vượt ngưỡng 40°C, điều hòa vẫn là một thiết bị khá hiếm trong nhiều ngôi nhà và tòa nhà công cộng. Điều này dấy lên các cuộc thảo luận về ranh giới của việc bảo vệ môi trường cực đoan hay đang góp phần giảm thiểu sự gia tăng nhanh chóng của nhiệt độ toàn cầu.
Vì sao điều này lại xảy ra?
1. Đặc điểm nhà tại châu lục này
Phần lớn các tòa nhà lịch sử ở Tây Âu được thiết kế cho việc giữ ấm suốt mùa đông dài. Tường gạch hoặc đá dày, cửa sổ lắp kín, ít khoảng thông thoáng tự nhiên. Điều này bắt nguồn từ đặc điểm khí hậu tại nơi này. Việc xây dựng như thế là giải pháp hoàn hảo để giải quyết bài toán cách nhiệt khi ngoài trời hầu như luôn âm độ. Nhưng khi mùa hè đến với nhiệt độ ngày càng cao hơn, chính đặc điểm đó lại biến các tòa nhà thành một bẫy nhiệt nguy hiểm. Thành phố tích nhiệt trong ngày và không tản ra được vào ban đêm. Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị càng làm cho nhiệt độ trong các tòa nhà của người dân trở nên nóng và oi ả hơn vào những lúc nhiệt độ tăng cao.
2. Lắp điều hòa là việc của cả bộ máy chính quyền.
Trời nóng là vậy nhưng để lắp một chiếc điều hòa ở nhiều thành phố lịch sử của châu Âu cũng không phải là một việc đơn giản. Việc gắn cục nóng ra mặt tiền phải yêu cầu hồ sơ xin phép, đánh giá tác động đến cảnh quan và đôi khi bị từ chối thẳng tay để bảo vệ kiến trúc lâu đời. Các luật bảo tồn di sản càng khiến quy trình này trở nên khắt khe hơn. Thế nhưng điều này không phải hoàn toàn vô lý. Thử tưởng tượng một cục nóng được treo lơ lửng trên mặt tiền tòa nhà Baroque từ thế kỷ 17 rõ ràng là không phù hợp. Thế nhưng khi nhiệt độ vượt 40 độ C và người già tử vong vì sốc nhiệt trong căn hộ không có điều hòa, người dân bắt đầu đặt nhiều câu hỏi hơn về sự cứng nhắc của bộ máy hành chính tại các quốc gia này.
3. Net zero nhưng lại đánh vào lĩnh vực dân dụng.
Việc sử dụng máy lạnh đẩy nhu cầu điện năng lên cao, nhất là trong những giai đoạn nắng nóng cao điểm, khi toàn bộ lưới điện đang chịu áp lực tối đa. Khi nguồn điện chưa được xanh hóa hoàn toàn, hệ thống làm mát vô hình trung làm tăng lượng khí thải gián tiếp. Các thiết bị làm lạnh còn chứa chất có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cực mạnh nếu rò rỉ. Đây chính là lý do các chính sách tại EU đang siết chặt nhằm giảm thiểu cả mức tiêu thụ năng lượng lẫn tác động tiêu cực từ các loại khí thải này. Điều này càng trở nên phức tạp hơn trong bối cảnh nhiều đợt khủng hoảng năng lượng liên tiếp những năm gần đây, khiến việc vận hành một chiếc điều hòa trở thành một khoản chi không nhỏ với nhiều hộ gia đình châu Âu. Thế nhưng, điểm đáng nói là thay vì thắt chặt ở các ngành công nghiệp xả thải lớn như hàng không hay hàng hải thì Chính phủ lại quyết định thắt chặt các quy định lên người dân bất kể bối cảnh hiện tại.
4. Niềm tin không sử dụng máy lạnh.
Bên cạnh đó, trong phần lớn bề dày lịch sử, khí hậu ôn đới của châu Âu chỉ có vài ngày nắng đỉnh điểm mỗi năm, thường chỉ vượt 30 độ một chút. Gió tự nhiên và cửa sổ mở là đủ để người dân vượt qua. Hay thậm chí người ta còn thích thú tận hưởng cái nóng của mùa hè hơn là một mùa đông lạnh buốt. Vì thế mà điều hòa hầu như không có trong danh sách thiết bị thiết yếu. Thậm chí ở một số nơi còn tồn tại quan niệm rằng luồng khí lạnh nhân tạo từ máy lạnh không tốt cho sức khỏe, khiến người dân ưa chuộng gió tự nhiên hơn. Kết quả là khi đợt nóng thực sự ập đến, người dân không có đủ thời gian, tiền bạc, lẫn thói quen để kịp thích nghi.
Các tranh cãi liên quan
Nếu nhìn từ phía ủng hộ chính sách hạn chế điều hòa thì các chính sách được đưa ra không phải không có lý. Theo IEA, vận hành điều hòa đóng góp gần 1 tỷ tấn CO2 mỗi năm trên toàn cầu, tương đương khoảng 125kg CO2 trên đầu người nếu chia đều.
Nhưng hầu hết các phản ứng đáng chú ý trong đợt tranh cãi này đều đến từ phía người dân, những người cảm thấy mình đang bị yêu cầu hy sinh trong khi những bên gây ô nhiễm lớn hơn không bị kiểm soát tương xứng.
Ta hãy thử làm một phép tính đơn giản từ các số liệu đã được công bố. Lấy con số 125kg CO2/người/năm từ điều hòa nhân với 50 năm sử dụng. Thì một người dùng điều hòa cả đời tạo ra khoảng 6.250kg CO2. Trong khi đó theo số liệu từ T&E và ICCT, một chuyến bay tư nhân 4 giờ có thể thải khoảng 8 tấn CO2 tương đương 8.000kg. Nói cách khác, 4 giờ di chuyển bằng chuyên cơ riêng của một tỷ phú có thể xấp xỉ hoặc vượt toàn bộ lượng CO2 mà một người bình thường tạo ra từ điều hòa trong 50 năm dùng liên tục. Mặc dù đây chỉ là ước tính thô dựa trên mức trung bình toàn cầu chứ không phản ánh chính xác cho từng cá nhân hay khu vực. Nhưng những con số đó đủ để ta có thể dừng lại để trăn trở và suy nghĩ.
Bên cạnh đó, các trung tâm dữ liệu đang mọc lên khắp nơi để phục vụ nhu cầu AI và điện toán đám mây được ghi nhận là tạo ra các "đảo nhiệt" cục bộ. Chúng làm nóng đất đai và không khí xung quanh, ảnh hưởng đến hơn 340 triệu người sống gần khu vực đó. Trong khi chính những người dân bị yêu cầu hạn chế dùng máy lạnh thì những trung tâm dữ liệu tiêu thụ điện khổng lồ để làm mát server lại tiếp tục vận hành như một việc thường tình.
Và trong khi đó, nếu nhìn lại Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu năm 2015 cam kết việc hạn chế tăng nhiệt độ dưới 2°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Lượng CO2 toàn cầu vẫn cao hơn khoảng 9% so với mức cần thiết để đáp ứng. Nghĩa là dù người dân có tắt hết máy lạnh đi nữa, bức tranh tổng thể vẫn còn rất xa so với mục tiêu đã hứa.
Phản hồi chính thức của Bộ Ngoại giao Pháp trên X khi bị chỉ trích về chính sách hạn chế điều hòa càng làm tăng thêm cơn phẫn nộ của người dân: "We're not banning A/C. We're making sure future summers need it less." (Tạm dịch: Chúng tôi không cấm việc dùng điều hòa. Chúng tôi chủ đảm bảo là những mùa hè trong tương lai sẽ ít cần đến chúng hơn). Về mặt chiến lược dài hạn, đây là một lập luận có cơ sở và hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng người ngồi trong căn hộ gần 40 độ ngay lúc này có lẽ không có nhiều tâm trí để nghĩ đến tương lai.
Không ai phủ nhận rằng điều hòa có tác động đến môi trường. Vấn đề là khi người dân nhìn vào và thấy rằng những hy sinh mà họ đang được yêu cầu thực hiện không được áp dụng đồng đều với tất cả mọi người thì niềm tin vào chính sách khí hậu bắt đầu lung lay. Và một chính sách môi trường mà người dân không còn tin thì dù đúng về mặt khoa học đến đâu cũng rất khó tạo ra thay đổi thực sự về lâu dài.
Vậy thì chúng ta đã hiểu đúng về bảo vệ môi trường chưa?
Thông qua những tranh cãi xoay quanh đợt nắng nóng cực đoan ở châu Âu, có lẽ chúng ta cần nhìn lại cách chúng ta vẫn hiểu về việc bảo vệ môi trường và thay đổi niềm tin chỉ cần sống xanh là vấn đề môi trường sẽ được tự giải quyết.
Đối với một quốc gia đang hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050 như Việt Nam, yêu cầu giảm phát thải sẽ đi thẳng vào đời sống hằng ngày, từ việc tiết kiệm điện, thay đổi thói quen tiêu dùng cho đến các chính sách dân dụng, đến áp lực giảm phát thải. Mới đây, nghiên cứu trên tạp chí Nature Food cho thấy phát thải từ ruộng lúa toàn cầu đã tăng gần gấp đôi trong sáu thập kỷ qua. Điều này đồng nghĩa nông nghiệp, bên cạnh công nghiệp hay giao thông, cũng là một mảnh ghép không thể tách rời của bài toán khí hậu.
Và khi biến đổi khí hậu trở thành chuyện của từng căn hộ và từng thửa ruộng, liệu chúng ta có đang phân chia trách nhiệm một cách công bằng?
Có lẽ vì vậy, điều cần phá vỡ không phải là nhu cầu làm mát, cũng không phải thói quen sinh hoạt hay cách canh tác của người dân, mà là sự phụ thuộc vào các nguồn phát thải lớn của toàn bộ nền kinh tế. Bởi một chính sách khí hậu chỉ có thể đi được đường dài khi những hy sinh mà nó yêu cầu được phân bổ công bằng với trách nhiệm phát thải của từng nhóm đối tượng. Nếu không, điều mất đi đầu tiên sẽ không phải là vài chiếc điều hòa hay vài thửa ruộng, mà là niềm tin của xã hội vào chính quá trình chuyển đổi xanh.