Một đất nước, nhiều dấu riêng
Mỗi dịp 2/9, người Việt lại có thêm một lý do để tìm về những điều độc bản tạo nên căn tính của đất nước mình. Có người đi qua những di tích lịch sử, có người tìm đến di sản, công trình và vùng đất lâu đời. Cũng có người chọn một chuyến đi xa hơn để nhìn tận mắt những danh lam thắng cảnh vốn chỉ từng thấy qua ảnh. Quốc khánh vì thế không chỉ là một ngày để nhớ về lịch sử mà còn trở thành dịp để người ta tìm hiểu, thăm thú về những nét riêng của quê hương xứ sở mà chẳng nơi nào có.
Giữa rất nhiều nơi để đi, điều khiến những chuyến hành trình trở nên khác biệt chính là khao khát được thấu hiểu. Liệu một vùng đất có gì riêng, một món đồ được làm ra thế nào hay một cảnh quan đã hình thành qua bao nhiêu thế kỷ? Có lẽ bởi trước khi là một quốc gia được gọi tên trên bản đồ, Việt Nam đã được tạo nên từ rất nhiều vùng đất, nhiều lớp lịch sử và rất nhiều cộng đồng với những câu chuyện không giống nhau.
Thử nhìn Việt Nam theo chiều dọc, ta sẽ thấy một dải đất dài khoảng 1.650 km, nơi hẹp nhất chỉ khoảng 50 km nhưng lại đi qua núi cao, cao nguyên, rừng nhiệt đới, những đồng bằng rộng lớn và hơn 3.260 km đường bờ biển. Mỗi điều kiện tự nhiên lại tạo ra một cách sống khác nhau. Rồi qua hàng nghìn năm, lịch sử tiếp tục bồi đắp lên những vùng đất ấy những lớp kiến trúc, tín ngưỡng, nghề thủ công, âm nhạc và tập quán. Và chính những cộng đồng sống trong đó đã gìn giữ, biến đổi, trao truyền chúng thành những bản sắc riêng.
Những điều bắt đầu từ một vùng đất nhỏ đôi khi còn đi xa hơn nơi chúng được sinh ra. Chúng trở thành di sản được thế giới ghi nhận, điểm đến của những người yêu khám phá, chất liệu trong thời trang đương đại hay những giá trị vẫn đang được một thế hệ mới tiếp tục sống cùng. Hãy cùng thử đi dọc bản đồ Việt Nam để xem mỗi vùng đất đang mang trong mình những “vốn liếng” độc bản nào.
Bản sắc của dải đất hình chữ S
Hải Phòng: Cát Bà và loài voọc chỉ có thể tìm thấy ở đây
Giữa một quần đảo vốn đã đặc biệt bởi hệ thống núi đá vôi, thảm rừng nguyên sinh và môi trường biển bao la, Cát Bà còn sở hữu một “báu vật” sống là voọc Cát Bà. Đây là một loài linh trưởng đặc hữu của quần đảo, có đặc điểm dễ nhận diện với phần đầu vàng nhạt tương phản với bộ lông xám đen. Quần thể hoang dã của loài vật hoang dã này hiện chỉ còn ở Cát Bà. Voọc Cát Bà cũng nằm trong nhóm Cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered) trên IUCN Red List và được xem là một trong những loài linh trưởng hiếm nhất thế giới.
Có thể nói rằng, Cát Bà không phải nơi duy nhất ở Việt Nam có những loài linh trưởng đặc hữu. Việt Nam còn là nơi sinh sống của nhiều loài linh trưởng quý hiếm khác như voọc mông trắng, voọc chà vá chân xám hay voọc mũi hếch. Nhưng điều khiến voọc Cát Bà đặc biệt là phạm vi sống của nó nhỏ đến mức gần như gắn hoàn toàn với một địa danh: Cát Bà. Và khi một hệ sinh thái chỉ có thể giữ lại một loài ở một vùng đất cụ thể, việc bảo tồn nơi đó cũng đồng nghĩa với bảo tồn chính loài vật ấy. Vì vậy, những nỗ lực bảo vệ “người hàng xóm” này không chỉ là câu chuyện của một hòn đảo. Đó là câu chuyện về cách một cộng đồng địa phương cùng gìn giữ một phần đa dạng sinh học không thể tìm thấy ở nơi khác. Một loại “vốn liếng” mà Việt Nam không thể tự tạo lại nếu đánh mất.
Bắc Ninh: Khi một làn điệu dân ca bước vào đời sống mới
Dân ca Quan họ có một cách tồn tại không giống với những nét văn hóa thông thường khác. Được hình thành từ thế kỷ 17, những làn điệu quan họ được bắt nguồn bởi tục kết chạ giữa các làng sóm trong đời sống cộng đồng của vùng Kinh Bắc thay vì những sân khấu biểu diễn phục vụ âm nhạc. Không những thế, dân ca quan họ còn được chuẩn bị bởi những nội dung và ca từ sâu sắc, kỹ thuật hát điêu luyện và trong phục truyền thống quan họ. Chính sự kết hợp giữa âm nhạc và cách ứng xử ấy khiến Quan họ khác với việc đơn thuần “hát dân ca”. UNESCO ghi danh Quan họ Bắc Ninh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009, đánh giá đây là một thực hành giúp duy trì bản sắc địa phương và củng cố mối liên kết giữa các cộng đồng.
Điều thú vị là một di sản với nguồn gốc rất lâu đời xứ Kinh Bắc vẫn có thể bước vào đời sống âm nhạc hôm nay. “Bắc Bling” của Hòa Minzy, ra mắt năm 2025 là một ví dụ rõ ràng khi chất liệu văn hóa Kinh Bắc được đặt vào pop hiện đại, kết hợp cùng Masew, Tuấn Cry và nghệ sĩ Xuân Hinh. MV cũng đưa vào hình ảnh lễ hội, làng nghề và nhiều địa danh của Bắc Ninh thay vì xem văn hóa truyền thống như một thứ chỉ dùng trong những dịp “hoài cổ”.
Từ một lối hát được hình thành để con người gặp gỡ và giao duyên, Quan họ hôm nay vẫn có thể tìm được một giọng nói mới. Có lẽ đó mới là một di sản còn sống. Khẳng định được một dạng văn hóa không đứng yên trong quá khứ mà tiếp tục tìm được cách để thế hệ mới nhận ra mình trong đó.
Quảng Ninh: Yên Tử và một dòng thiền được người Việt tạo dựng
Yên Tử thường được nhắc đến như một địa danh tâm linh, nhưng đằng sau những chùa, tháp và núi rừng ấy là một câu chuyện lớn hơn về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được gắn với vua Trần Nhân Tông sau khi ông xuất gia và tu hành ở Yên Tử và trở thành vị Tổ thứ nhất của dòng thiền này vào cuối thế kỷ XIII. Trúc Lâm thuộc truyền thống Thiền của Phật giáo Đại thừa nhưng được hình thành trong bối cảnh văn hóa Việt Nam và kết hợp với những yếu tố tư tưởng bản địa cùng ảnh hưởng của Nho giáo và Đạo giáo.
Cũng vì những nét giao thoa đặc biệt này mà Trúc Lâm có một vị trí khá đặc biệt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đây không đơn thuần là việc tiếp nhận một tôn giáo từ bên ngoài, mà là quá trình người Việt tiếp biến Phật giáo và hình thành một dòng thiền mang dấu ấn riêng. Yên Tử vì thế không chỉ là nơi hành hương mà còn là nơi có thể nhìn thấy cách các lớp tư tưởng, tín ngưỡng và đời sống tinh thần gặp nhau trong lịch sử Việt Nam.
Ngày nay, sự hấp dẫn của Yên Tử cũng không còn chỉ nằm ở ý nghĩa tôn giáo. Với những người trẻ, một chuyến lên Yên Tử có thể vừa là hành trình tìm hiểu lịch sử, vừa là du lịch giữa núi rừng, chùa tháp và một không gian đủ tách khỏi nhịp sống đô thị để người ta chậm lại. Năm 2025, quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản thế giới. Từ đó tiếp tục đưa giá trị của vùng đất này ra khỏi phạm vi của một địa điểm hành hương đơn thuần. Từ một ngọn núi ở Quảng Ninh, Trúc Lâm trở thành một cách rất Việt Nam để tiếp nhận và diễn giải Phật giáo. Còn Yên Tử hôm nay lại trở thành một nơi thế hệ mới tìm về khi muốn hiểu thêm về quá khứ, thiên nhiên và chính mình.
Quảng Bình: Sơn Đoòng, một thế giới được tạo ra trong lòng đất
Hang Sơn Đoòng vốn nổi tiếng với danh xưng hang động lớn nhất thế giới theo thể tích nhưng điều thú vị hơn về hang động này còn rất nhiều. Hang nằm trong quần thể Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi hệ thống núi đá vôi đã trải qua quá trình địa chất kéo dài hàng triệu năm. Nước sông chảy xuyên qua các lớp đá, bào mòn và mở rộng những khe nứt tự nhiên. Từ đó dần tạo nên hệ thống hang động khổng lồ. Sơn Đoòng vì thế không phải một “công trình” mà con người xây dựng mà là kết quả của một quá trình tạo tác của thiên miên trong thời gian dài đến mức vượt xa lịch sử con người.
Khi bước vào trong, quy mô của Sơn Đoòng lại khiến khách du lịch không khỏi trầm trồ bởi khu rừng nguyên sinh phát triển ngay trong hang, sông ngầm chảy xuyên lòng đất và những đám mây hình thành do điều kiện khí hậu đặc thù bên trong hang. Một không gian tưởng như chỉ có đá lại có đủ những yếu tố của một hệ sinh thái riêng, trở thành một “vương quốc” ẩn mình dưới lớp địa chất ấy.
Sơn Đoòng cũng là ví dụ rõ ràng cho cách một giá trị tự nhiên địa phương có thể trở thành một phần của hình ảnh Việt Nam trên bản đồ thế giới. Nằm trong Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng của UNESCO, hang đã trở thành một điểm đến gắn với trekking (hoạt động đi đường dài mạo hiểm) và du lịch khám phá dành cho những người muốn tìm đến những không gian khó tiếp cận.
Có lẽ cũng vì vậy mà Sơn Đoòng không chỉ là niềm tự hào của riêng Quảng Bình. Nó là một minh chứng cho những “vốn liếng” mà Việt Nam may mắn được thừa hưởng. Những giá trị không được tạo nên trong vài thế hệ mà phải kinh qua sự bồi đắp của đất trời trong hàng triệu năm để rồi trở thành một phần độc bản của đất nước này.
Tây Ninh: Tòa Thánh và một tôn giáo ra đời ngay trên đất Việt
Mái cong, màu sắc rực rỡ, các hình tượng long, phụng, hoa sen cùng những chi tiết mang tính biểu tượng khiến công trình có diện mạo rất riêng. Đó chính là những nét đặc trưng của một kiến trúc được ảnh hưởng từ tôn giáo tại Việt Nam - tòa thánh Tây Ninh của người đạo Cao Đài, một tôn giáo bản địa hình thành tại Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX.
Cao Đài chủ trương dung hợp “Tam giáo” gồm Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo và đồng thời tiếp nhận một số yếu tố từ các truyền thống tôn giáo khác. Tư tưởng này không chỉ nằm trong giáo lý mà được thể hiện trực tiếp qua kiến trúc, biểu tượng, trang phục và nghi lễ của đạo.
Có lẽ vì thế mà lịch sử xây dựng của tòa thánh này cũng phần nào mang theo hơi hướng đặc biệt của tôn giáo này. Theo tư liệu của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, những tín đồ Cao Đài đã mua một khu đất rộng khoảng 96 mẫu dành cho việc xây dựng tòa thánh. Giáo sư Thượng Mai Thanh, Trưởng Ban Cai quản Thánh thất Cao Đài Thủ đô Hà Nội, từng chia sẻ điểm đặc biệt của công trình ở chỗ không cần bất cứ bản vẽ hay kiến trúc sư nào. Thay vào đó, công trình manh đậm dấu ăn tôn giáo này được tạo nên từ lòng tin và chính bàn tay, khối óc của người Việt.
Với tín đồ Cao Đài, đây là trung tâm sinh hoạt và thờ phụng quan trọng nhất của đạo, các nghi lễ được thực hành theo những quy tắc riêng. Đời sống tôn giáo cũng nhấn mạnh tinh thần bình đẳng, trong đó tín đồ và chức sắc gọi nhau là anh, chị, em và các nghi lễ thường ngày có những lễ vật đơn giản như hoa, rượu, nước và trà.
Từ một tôn giáo được hình thành ở Nam Bộ, Tòa Thánh trở thành một trong những biểu tượng dễ nhận diện nhất của Tây Ninh. Đứng giữa kiến trúc, tín ngưỡng và lịch sử, công trình này cho thấy bản sắc đôi khi không phải thứ đã tồn tại hàng nghìn năm. Thay vào đó, nó vẫn có thể được tạo nên, ngay trong thời hiện đại và bởi chính một cộng đồng người Việt.
An Giang: Lãnh Mỹ A, trái mặc nưa và sàn diễn quốc tế?
Một loại lụa có màu đen sâu và chất liệu sáng bóng đến mức được ví như “sơn mài mặc lên người” nghe có vẻ đã đủ đặc biệt. Nhưng điều làm Lãnh Mỹ A khác biệt còn nằm ở cách nó được tạo ra. Đây là loại lụa truyền thống của Tân Châu, được dệt từ tơ tằm rồi nhuộm bằng trái mặc nưa. Sợi vải phải trải qua quá trình ngâm, ép, phơi và lặp lại nhiều lần để sắc đen đạt được độ sâu và độ bóng đặc trưng. Chính quy trình thủ công kéo dài và công phu này khiến Lãnh Mỹ A trở thành một trong những chất liệu dệt đặc biệt của vùng Tây Nam Bộ.
Thứ thú vị là một chất liệu từng đứng trước nguy cơ mai một lại có thể tìm được đời sống mới trong thời trang. Nhà thiết kế Nguyễn Công Trí đã đưa Lãnh Mỹ A vào bộ sưu tập No.9 mang tên “Lúa”, trình diễn tại Tokyo Fashion Week năm 2016, biến sắc đen và độ rủ của loại lụa này thành một phần của thời trang thiết kế đương đại. Không chỉ dừng ở Tokyo, Lãnh Mỹ A còn xuất hiện trên những sân khấu thời trang quốc tế khác. Vào năm 2025, nhà thiết kế Phan Đăng Hoàng tiếp tục đưa Lãnh Mỹ A vào bộ sưu tập Lacquer tại Milan Fashion Week với những thiết kế độc đáo kết hợp giữa thời trang quốc tế và chất liệu của một sản phẩm mang đậm căn tính người Việt.
Từ trái mặc nưa của vùng Tân Châu đến những bộ trang phục trên sàn diễn quốc tế, Lãnh Mỹ A đã khẳng định một điều rằng các chất liệu Việt Nam không cần bỏ lại nguồn gốc để trở nên hiện đại và hội nhập.