David Bowie - Đừng chất vấn chính mình | Vietcetera

David Bowie - Đừng chất vấn chính mình

Khi ta điểm tên những danh nhân LGBT+ tiên phong trong Pride Month mỗi năm, David Bowie là một cái tên không thể không nhắc tới.

David Bowie trong show Ouvrez Le Chien (Live Dallas 95), tháng 11, 1995 | Nguồn: Mirrorpix/Getty Images

David Bowie trong show Ouvrez Le Chien (Live Dallas 95), tháng 11, 1995 | Nguồn: Mirrorpix/Getty Images

Với 25 studio album ra mắt trong 5 thập kỷ, David Bowie không ngừng làm mới mình với những alter-ego táo bạo như Ziggy Stardust, Aladdin Sane, Major Tom,... Phong cách phi giới tính của Bowie đã góp phần giúp cộng đồng LGBT+ được đón nhận bởi đại chúng. 

Là một ngôi sao không ngừng phá vỡ định kiến và đề cao sự tự do trong biểu đạt, Bowie  giúp cộng đồng LGBT+ không thấy mình cô độc và cho họ sự dũng cảm để là chính mình.  

Sống đúng với chính mình và sáng tạo cho bản thân

Năm 1964, Bowie 17 tuổi và được biết đến với nghệ danh David Jones. Bowie đã xuất hiện trong chương trình “Tonight” của BBC với tư cách người đại diện cho “Hiệp hội phòng chống Phân biệt đối xử với Đàn ông có mái tóc dài”. Bowie dõng dạc tuyên bố: “Tôi nghĩ ai cũng thích tóc dài và không có lý do gì để bất cứ ai bị quấy rầy bởi vì mái tóc.”

Đây là một câu chuyện điển hình về cách Bowie luôn táo bạo thể hiện cá tính và chống trả định kiến xuyên suốt trong sự nghiệp.

David Bowie khi là Ziggy Stardust, Aladdin Sane và The Thin White Duke. Nguồn ảnh: chụp bởi Masayoshi Sukita từ David Bowie Archive, bìa album Aladdin Sane và từ buổi biểu diễn tại Toronto, 1976.

Người làm sáng tạo phải làm việc cho chính mình và sống đúng với bản thể. Như Bowie trả lời với The Word vào năm 2003:

“Những sai lầm lớn nhất của tôi xảy ra khi tôi thiếu quyết đoán hoặc cố gắng làm khán giả hài lòng. Tác phẩm của tôi mãnh liệt hơn khi tôi thực sự ích kỷ với chúng.” 

“All my big mistakes are when I try to second-guess or please an audience. My work is always stronger when I get very selfish about it.”

Không bị điều hướng bởi nhà sản xuất, khán giả hay công chúng, các album của Bowie đa dạng về thể loại và xóa nhòa định nghĩa về âm nhạc. Từ glam-rock, folk-rock đến hard-rock hay grunge. Album Low của Bowie là một thể nghiệm với nhạc điện tử, trong khi đó, Let’s Dance LP lại mang chất Pop nổi trội.

Trong quá trình sáng tạo, từ viết nhạc, dựng sân khấu, lên ý tưởng cho hình tượng, Bowie luôn làm theo cảm hứng của bản thân. Như cách Bowie hướng dẫn những người làm nghệ thuật trong phim tài liệu Inspirations (1997): “Hãy luôn nhớ lý do bạn bắt đầu sáng tạo. Vì có những điều trong bạn nếu được chia sẻ, bạn sẽ hiểu bản thân, từ đó hiểu được ý nghĩa sự tồn tại của mình.”

Trong sáng tác nói riêng hay cuộc sống nói chung, chúng ta đều có quyền được sống đúng với chính mình và tranh đấu cho quyền lợi ấy. Bowie nhắn nhủ: “Càng ít tự chất vấn mình là ai, tôi càng thấy thanh thản.”

Phá bỏ định kiến và giới hạn

Với alter-ego Ziggy Stardust - một người ngoài hành tinh song tính mang vẻ ngoài phi giới tính - Bowie đã làm nên một cuộc cách mạng. Ziggy Stardust xuất hiện với những bộ bodysuits bó chặt, những bộ váy rực rỡ, với mái tóc đỏ và trang điểm đậm. Qua nhân vật Ziggy, Bowie mở ra một tương lai khi xu hướng tính dục và giới tính không bị giới hạn bởi định kiến.

David Bowie trên Top of the Pops của BBC | Nguồn: BBC

 

Năm 1972, khi hát “Starman” trên Top of the Pops của BBC, Bowie quàng tay lên guitarist Mick Ronson và họ nhìn nhau đắm đuối. Trong chương trình có hơn 14 triệu người xem này, hành động của Bowie đã làm dư luận dậy sóng.

Bowie cũng có nhiều câu chuyện riêng để kể. Công bố về xu hướng tính dục của ông không thống nhất: Bowie công khai mình đồng tính năm 1972, là song tính năm 1976, rồi sau này Bowie nói mình là một người dị tính ngầm (“closet heterosexual”). Kết hôn với siêu mẫu Iman, hạnh phúc bên nhau 26 năm cho đến lúc Bowie qua đời vì ung thư.

Dù vậy, không ai có thể phủ định sức ảnh hưởng của Bowie với cộng đồng LGBT+. Khi ngôi sao này qua đời, một làn sóng thương tiếc lan tỏa, dường như mỗi người đều có một câu chuyện riêng về việc Bowie đã giúp họ tìm thấy sự tự do.

Bowie và Iman, chụp bởi Bruce Weber, năm 1995

Như tờ Stale viết: “Bowie hoàn toàn thoải mái với sự mâu thuẫn về giới tính và xu hướng tính dục. Một người đàn ông mặc váy và trang điểm không có nghĩa anh ấy đồng tính. Người đàn ông kết hôn với một trong những nữ siêu mẫu xinh đẹp nhất cũng chẳng có nghĩa anh ta thẳng.

Bowie không chỉ đơn thuần phi giới tính... Bowie luôn nổi bật, dù ở mặt nam tính hay nữ tính của ông - ông là mọi điều cùng lúc, phá bỏ những định nghĩa giản lược.”

Nếu chưa biết chắc mình là ai, thì cứ thử nghiệm thật nhiều

Thử nghiệm là một tôn chỉ tiên quyết trong sự nghiệp của Bowie. Ông trả lời tờ The Telegraph năm 1996: “Tôi gần như đã thử mọi thứ. Bất kỳ thứ gì văn hóa phương Tây có - tôi đều đã trải qua.”

Ngoài việc thử nghiệm để đem đến vốn sống dày dặn, người sáng tạo nên thử nghiệm với các loại hình nghệ thuật và các giới hạn khác nhau. Bowie ứng dụng vô vàn nguồn cảm hứng tham khảo, từ kịch kabuki của Nhật, kịch commedia dell'arte của Ý, đến kịch câm hay nghệ thuật thị giác Bauhaus. 

Song song với các dự án âm nhạc, Bowie luôn vẽ tranh như một cách để “giải quyết những vấn mà âm nhạc không đủ đáp ứng."

David Bowie bên cạnh bức chân dung ông vẽ huyền thoại punk Iggy Pop năm 1976.

Tạo ra những nhân cách mới hoàn toàn xa lạ cũng là một cách để vượt qua nỗi sợ và khám phá chính mình. Về những alter-ego của mình, Bowie trả lời: “Thời niên thiếu, tôi ngại ngùng, xa lánh đám đông. Tôi quyết định trình diễn với hóa trang để không phải chịu sự xấu hổ khi là chính mình trên sân khấu. Tôi liên tục tạo nên những nhân vật mới, với tính cách và hoàn cảnh hoàn toàn riêng biệt.”

Đặt mình trong những bối cảnh khác biệt là cách để người nghệ sĩ làm giàu trí tưởng tượng và làm mới hình ảnh. Không đâu xa, ta có thể góp nhặt từ những cuộc gặp mặt hàng ngày. Như Bowie kể “Tôi có thể vào vai những người tôi đã từng gặp. Tôi là một nhà sưu tầm những nhân cách và ý tưởng.”

Chính sự trải nghiệm đa dạng, thể nghiệm phá vỡ định kiến trong cả nghệ thuật lẫn cuộc sống đã làm nên sự nghiệp tiên phong của David Bowie.