The Odyssey: Như Odysseus thách thức thần linh, Nolan thách thức giới hạn điện ảnh | Vietcetera
Billboard banner
Vietcetera

The Odyssey: Như Odysseus thách thức thần linh, Nolan thách thức giới hạn điện ảnh

Trong The Odyssey, Odysseus thách thức thần linh, còn Christopher Nolan thách thức giới hạn điện ảnh để tạo nên một kỳ tích đầy ngông cuồng.
Tuấn Anh
The Odyssey: Như Odysseus thách thức thần linh, Nolan thách thức giới hạn điện ảnh

Nguồn: Universal Pictures

*Bài viết có tiết lộ nội dung bộ phim The Odyssey (và tác phẩm Iliad và Odyssey; bộ phim Troy; O Brother, Where Art Thou?; Nostos: The Return;...)

Người Hy Lạp cổ đại có một thuật ngữ là “hubris” (ὕβρις). Trong ngữ nghĩa nguyên thủy nhất, “hubris” có thể là sự thách thức thần linh, là khi một kẻ của trần thế dám tự xưng mình giỏi giang hơn các vị thần ở một kỹ nghệ nào đó, hoặc đơn giản là quên mất vị thế phàm nhân của mình. Các vị thần trong thần thoại Hy Lạp thường đóng vai trò hiện thân của thiên nhiên, và những câu chuyện thần thoại thường hiếm khi không mang tính răn đe. Con người chúng ta vốn dĩ nhỏ bé vô cùng, và trong cuộc xung đột muôn thuở giữa nhân loại và thiên nhiên, con người ít khi giành phần thắng. Bởi thế, việc nàng Arachne tự tin rằng mình dệt vải đẹp hơn nữ thần Athena là “hubris”. Việc Icarus tưởng mình có thể bay sát mặt trời là “hubris”. Và việc Bellerophon cho rằng bản thân xứng đáng được bước lên đỉnh Olympia sau khi hạ gục quái vật Chimera và thuần phục ngựa thần Pegasus cũng là “hubris”.

Nhưng “hubris” không nhất thiết phải mang nghĩa tiêu cực của sự kiêu ngạo thuần túy. Trong bản chuyển thể điện ảnh mới nhất từ sử thi Odyssey của thi hào Homer, nhân vật chính Odysseus, sau khi nghe nữ phù thủy Circe tiết lộ số phận nghiệt ngã mà thần linh đã định đoạt cho thủy thủ của ông, tuyên bố đầy đanh thép rằng ông sẽ “phản lại các vị thần” để đưa binh lính của mình trở về nhà. Đó quả thực là một sự báng bổ, một hành động ngạo mạn, nhưng nó đâu tới từ cái tôi ích kỷ của Odysseus.

Phía trước ống kính là vậy, còn phía sau, tác phẩm đó được nhào nặn nên bởi một trong những nhà làm phim “ngông” bậc nhất của điện ảnh đương đại, một đạo diễn liên tục liều lĩnh bay sát mặt trời để thử thách giới hạn của bản thân, của công nghệ, của quy chuẩn tự sự, và của chính điện ảnh nói chung. Với The Odyssey, Christopher Nolan có lẽ đã thực hiện chuyến bay cao nhất từ đầu sự nghiệp của ông tới giờ.

Matt Damon trong The Odyssey. | Nguồn: Universal Pictures

Không còn là bản anh hùng ca về hồi hương

Tương tự như nguyên tác của Homer, The Odyssey của Nolan mở đầu ở giữa câu chuyện. Bên trong sảnh đường mập mờ sáng của cung điện Ithaca, hàng chục gã quý tộc đang chè chén say sưa, bất chấp sự bất bình của hoàng hậu Penelope (Anne Hathaway) và vị hoàng tử trẻ Telemachus (Tom Holland). Đức vua của họ, Odysseus (Matt Damon), đã rời quốc đảo theo lệnh của Đại đế Agamemnon (Benny Safdie) để chinh phạt thành Troy, sau khi hoàng tử Paris của vương quốc xa xôi đó bắt cóc Helen (Lupita Nyong’o) - vợ của Menelaus (Jon Bernthal), vua xứ Sparta và em trai của Agamemnon. Odysseus đã biền biệt suốt 20 năm, và giờ đám kẻ cầu hôn dẫn đầu bởi gã Antinous tráo trở (Robert Pattinson) ngày một trở nên táo bạo hơn, thèm khát được kết hôn với Penelope và chiếm lấy ngai vàng.

Thế nhưng Odysseus chưa chết. Sau khi bày ra mưu kế để hạ gục thành Troy, nhà vua xứ Ithaca cùng các binh sĩ giong buồm ra khơi, ngỡ rằng họ sẽ có một chuyến hồi hương êm đềm. Nhưng sau một lần cập bờ hoang đảo để tiếp tế, Odysseus và binh sĩ chạm trán với gã khổng lồ một mắt Polyphemus, chọc mù mắt hắn và gieo thù oán với cha hắn là thần biển Poseidon. Chuyến hải trình kể từ đó trở nên hiểm hóc khôn lường, buộc Odysseus và các thuộc hạ phải đương đầu với vô vàn hiểm chướng thần thoại: từ tộc khổng lồ Laestrygonians, nữ phù thủy quyền năng Circe (Samantha Morton) của hòn đảo Aeaea, hố xoáy tử thần Charybdis và quái vật ăn thịt gớm ghiếc Scylla, tiếng ca mê đắm tới chết người của đám yêu nữ Sirens, sự cám dỗ từ đàn gia súc của thần Mặt trời Helios, tới cuối cùng là tình yêu say đắm của tiên nữ Calypso (Charlize Theron). Và ngay cả khi có thể vượt qua tất cả, Odysseus cũng chẳng thể cứ bước lại vào sảnh đường của cung điện Ithaca, về lại với ngai vàng bên người vợ và con trai. Có điều gì đó đã vĩnh viễn thay đổi ở thế giới của họ trong hai thập kỷ vừa qua, và dù bản thân có nhận ra hay chưa, chính Odysseus lại là nguồn cơn của sự thay đổi ấy.

Anne Hathaway và Tom Holland trong The Odyssey. | Nguồn: Universal Pictures

Trong sử thi của Homer, khái niệm “nostos” (νόστος) hay tinh thần hồi hương là chủ đề xuyên suốt. Trái lại, các khái niệm như “xenia” (ξενία) hay luật hiếu khách, và “hubris” chỉ đóng vai trò phụ trợ. Tuy nhiên, bản chuyển thể của Nolan lại xoáy sâu vào hai chủ đề sau. Trong đó, “xenia” hay luật của thần Zeus đóng vai trò như thứ nguyên lý mà nếu thiếu nó, nền văn minh trong phim không thể tồn tại; còn “hubris” hiện diện như chiếc bóng u ám bao trùm lên hành trình cảm xúc lẫn thể xác của Odysseus.

“Xenia” trong văn hóa Hy Lạp cổ đại vượt xa khái niệm của lòng hiếu khách thông thường. Nó dựa trên niềm tin rằng, vì các chư thần đỉnh Olympia thường xuyên cải trang thành người phàm để vi hành dưới hạ giới, nên bất kỳ ai bước qua ngưỡng cửa nhà bạn, dù là một vị vua hay một kẻ ăn mày, đều có thể là một vị thần ẩn danh. Do đó, luật thiêng của Zeus yêu cầu mọi vị khách phải được đối đãi với lòng hiếu khách và sự tôn trọng tột cùng. Trong bộ phim, “xenia” là nguyên tắc xã hội mà Odysseus và binh sĩ trông cậy vào để sống sót qua chuyến hồi hương. Quyết định rằng sẽ không cướp phá thêm tại thành Troy đã thất thủ, họ xác định sẽ tìm kiếm lương thực và nhu yếu phẩm trên các hòn đảo dọc đường với niềm tin rằng theo luật của Zeus, cư dân đảo sẽ không thể từ chối họ.

Thế nhưng, cũng giống như cách đám cầu hôn ở Ithaca lạm dụng “xenia” để vắt kiệt hoàng cung, Odysseus cùng binh lính của ông cũng lạm dụng thiên luật của Zeus, cướp phá các hòn đảo và ép người dân phải cống nạp mà chẳng màng đến sự đồng thuận của họ. Mỗi trạm dừng chân đẩy Odysseus gần hơn tới một sự thật bẽ bàng, rằng cuộc chiến đã biến ông thành huyền thoại trong những bản hùng ca thực chất chẳng hề chính nghĩa và cao đẹp đến thế.

Đó là sự ngạo mạn của Odysseus. Với bộ óc thiên tài về binh pháp, sự tự tin vào khả năng bảo vệ binh sĩ khỏi sự phẫn nộ của thần linh, và quyết tâm tìm đường trở về nhà, Odysseus đã chà đạp lên luật lệ thiêng liêng nhất của chư thần, và qua đó, phá vỡ sợi dây liên kết cơ bản nhất giữa con người với nhau. Khác với cách Homer ca ngợi sự khôn ngoan của Odysseus trong mưu kế ngựa gỗ hay ngón đòn để tẩu thoát khỏi hòn đảo của Polyphemus, những mánh khóe của ông dưới góc nhìn của Nolan rốt cuộc lại là sự phản bội sâu sắc đối với luật hiếu khách. Con ngựa gỗ rốt cuộc là một lễ vật cầu hòa giả tạo lợi dụng đức tin của người dân thành Troy, là một cú “trảm thần” sẽ tiếp tục ám ảnh toàn bộ hành trình của Odysseus.

Robert Pattinson trong The Odyssey. | Nguồn: Universal Pictures

Christopher Nolan vốn dĩ đã luôn làm The Odyssey

Xét theo một khía cạnh nào đó, Christopher Nolan đã dành trọn sự nghiệp của mình để kể lại từng mảnh ghép của The Odyssey. Phân đoạn Odysseus, Menelaus và Eurylochus (Himesh Patel) trốn trong bụng con ngựa gỗ đang chìm phân nửa dưới nước làm gợi nhớ đến bộ phim Dunkirk. Chuyến hồi hương dài đằng đẵng đầy khổ đau cùng bảy năm trời sống không ký ức trên hòn đảo Ogygia mang hơi hướng của Interstellar, khi chuyến thám hiểm hành tinh của Miller đã cướp đi của Amelia và Cooper hàng thập kỷ ở Trái Đất do sự giãn nở thời gian. Nolan thậm chí còn giao vai chính cho Matt Damon, nam diễn viên đã bao lần vào vai những nhân vật phải chật vật tìm đường về nhà, từ binh nhì Ryan trong Saving Private Ryan, Mark Watney trong The Martian, cho tới tiến sĩ Mann trong chính Interstellar của Nolan. (Damon đã có màn diễn xuất xuất chúng trong The Odyssey, sánh ngang với các đồng nghiệp Hathaway hay Pattinson và có lẽ chỉ chịu lép vế một chút trước màn hóa thân quá đỗi xuất sắc của Samantha Morton trong vai Circe.)

Nhưng trên hết, những bộ phim của Nolan luôn xoay quanh các nhân vật phải đối diện với một thứ khái niệm nào đó quá đỗi vĩ mô so với họ, bất kể đó là nhà ảo thuật Robert Angier cố gắng khai thác thứ công nghệ ngoài tầm hiểu biết của mình trong The Prestige, hay J. Robert Oppenheimer đinh ninh rằng nhân loại rồi vẫn sẽ vận hành như xưa sau khi ông mở chiếc hộp Pandora mang tên bom nguyên tử. (Có một sự đối xứng khá thú vị giữa câu chuyện của Odysseus và Oppenheimer, khi cả hai đều khởi phát một phản ứng dây chuyền dần hủy diệt toàn bộ thông lệ vận hành của nền văn minh của họ). Vậy nên, việc ông tập trung khai thác sự ngạo mạn của Odysseus, sau cùng lại thật hợp lý.

Một đạo diễn theo chủ nghĩa hiện thực sẽ kể thần thoại bằng cách nào?

Thứ phi lý hơn lại chính là việc ông lựa chọn chuyển thể câu chuyện The Odyssey. Bao lâu nay, Nolan đã xây dựng danh tiếng là một nhà làm phim theo chủ nghĩa hiện thực. Ông sẽ luôn dùng lý trí và logic để giải mã câu chuyện, ngay cả khi đối mặt với những yếu tố phi tự nhiên. Ông khoa học hóa yếu tố siêu nhiên, logic hóa những nhân vật bước ra từ truyện tranh. Vì vậy, một câu hỏi đã được đặt ra ngay khoảnh khắc dự án The Odyssey được công bố: Làm thế nào để bộ óc duy thực bậc nhất của Hollywood chuyển thể được một thế giới đầy rẫy thần linh và ma thuật của Homer? Liệu ông có thể cho phép bản thân chìm vào sự huyền ảo không? Hay liệu ông sẽ cố hợp lý hóa, tỷ dụ như gã Cyclops thực chất bắt nguồn từ hộp sọ của những con voi lùn được tìm thấy ở Sicily và bị nhầm lẫn là sọ của người khổng lồ một mắt, như góc nhìn của các nhà khảo cổ ngày nay không? Câu trả lời rốt cuộc là không. Nolan thậm chí còn trấn an khán giả bằng dòng chữ mở màn bộ phim, khẳng định rằng câu chuyện chúng ta sắp theo dõi diễn ra “trong một thời đại của ma thuật hiện hữu”.

Nguồn: Universal Pictures

Thay vì giải thích phép màu, Nolan khiến phép màu trở nên chân thực

Để rồi, phần lớn sự thú vị khi thưởng thức The Odyssey là quan sát cách Christopher Nolan thách thức giới hạn của bản thân để chuyển thể áng thơ đã được kể đi kể lại không biết bao lần trong suốt 21 thế kỷ vừa qua. Ông vẫn tiếp cận nó như một nhà làm phim duy thực, nhưng không hề gượng ép chủ nghĩa hiện thực để lý giải những yếu tố siêu nhiên, mà thay vào đó, đem tới cho những yếu tố siêu nhiên một tính chân thực tới nỗi tưởng chừng như có thể cầm nắm được, để giúp khán giả trải nghiệm câu chuyện thần thoại với sự hoài nghi ở mức thấp nhất. Ông có đủ tự tin vào năng lực của bản thân để dám đi ngược lại với sự lạm dụng CGI đã trở thành quy chuẩn của điện ảnh ngày nay, và quay trở về với những kỹ thuật hiệu ứng thực tế từ thập niên 50 tới 70, khi kỹ xảo điện ảnh vẫn còn được coi như một bộ môn ảo thuật.

Đối với phân cảnh khi Circe biến binh sĩ của Odysseus thành lợn, Nolan đã sử dụng mô hình robot bọc cao su để Samantha Morton có thể nhào nặn chúng như đất sét. Cảnh chiến đấu với bộ tộc khổng lồ Laestrygonian được thực hiện bằng kỹ thuật phối cảnh ép đánh lừa thị giác (forced perspective). Cảnh gã Cyclops một mắt được quay với con rối khổng lồ cao tới 6 mét kết hợp cùng màn trình diễn trực tiếp trên trường quay của nam diễn viên Bill Irwin.

Bill Irwin trong The Odyssey. | Nguồn: Universal Pictures

Thực hiện bộ phim The Odyssey là một hành động ngông cuồng của Christopher Nolan. Và phần lớn kỳ công đó đã gặt hái trái ngọt. Sự chân thực thông qua các kỹ xảo thủ công cổ điển phát huy tác dụng của chúng, và bạn chắc chắn sẽ phải choáng ngợp trước những gì mình được chứng kiến trên màn ảnh suốt 3 giờ đồng hồ của bộ phim. Những lựa chọn diễn viên có phần “độc lạ”, vốn là chủ đề của rất nhiều chỉ trích sặc mùi định kiến ác ý trước khi phim ra mắt, cũng phát huy tác dụng, ngoại trừ một vài ngoại lệ hy hữu (như trường hợp của Tom Holland trong vai Telemachus hay Jon Bernthal trong vai Menelaus).

Dù vậy, vẫn không thể phủ nhận rằng dường như Nolan đang bay hơi quá sát Mặt Trời. Ông đã từng thử nghiệm với phim IMAX 70mm kể từ The Dark Knight, và The Odyssey đánh dấu bộ phim điện ảnh đầu tiên được quay hoàn toàn bằng máy quay IMAX. Tuy nhiên, lựa chọn đầy tham vọng này cũng đi kèm với vô vàn rắc rối, chẳng hạn như việc những chiếc máy quay này ồn tới nỗi phải được đặt trong hộp cách âm cồng kềnh trong những phân cảnh quay cận nặng lời thoại, buộc các diễn viên phải diễn xuất qua gương thay vì trực tiếp với bạn diễn. Hay việc mỗi cuộn phim chỉ dài khoảng ba phút, dẫn tới rất nhiều cảnh quay quá ngắn và nhịp dựng dồn dập khiến bộ phim đôi khi không đủ không gian để “thở”. Hay thực tế là chỉ có vỏn vẹn 41 rạp trên toàn thế giới đủ tiêu chuẩn IMAX 70mm, khiến đại đa số khán giả không thể trải nghiệm bộ phim theo đúng cách mà đạo diễn mong muốn. Ở một khía cạnh nào đó, việc cho rằng đây là cách “tốt nhất” để quay một bộ phim liệu có phải là “hubris”, là kiêu ngạo?

Vì ngạo mạn, Arachne bị nguyền rủa mãi làm con nhện. Icarus lìa đời ngay trước mắt người cha. Bellerophon bị Zeus trừng phạt trước khi kịp chiêm ngưỡng đỉnh Olympia. Nhưng họ chỉ là những kẻ phàm trần, còn Christopher Nolan có lẽ đã đạt tới vị thế như một á thần trong ngôi đền thần thoại của điện ảnh. Và vậy nên, nỗ lực đầy ngông cuồng của ông không có kết cục bi đát. Mặc dù nếu cố “bới lông tìm vết”, ta vẫn sẽ soi ra một số những điểm trừ, từ các lựa chọn thiết kế trang phục cho đến những sai lầm ngớ ngẩn trong lời thoại như nhầm lẫn giữa hai vị thần Apollo với Helios, nhưng sau cùng, The Odyssey vẫn là một kỳ tích của nghệ thuật làm phim, một bản chuyển thể xứng đáng đi vào huyền thoại được tạo nên bởi một đạo diễn dám thách thức mọi giới hạn của kỹ nghệ điện ảnh. Nó để lại cho chúng ta một câu hỏi: liệu đôi cánh sáp của Nolan sẽ mang ông đi tới chân trời nào tiếp theo?