Điện ảnh Việt có đang bội thực phim kinh dị? | Vietcetera
Billboard banner
Vietcetera

Điện ảnh Việt có đang bội thực phim kinh dị?

Trong chưa đầy 8 tháng, 9 phim kinh dị Việt đã ra rạp, 4 trong số đó vượt mốc doanh thu 100 tỷ đồng.
Tuấn Anh
Điện ảnh Việt có đang bội thực phim kinh dị?

Nguồn: Phim Heo Năm Móng

Tính từ ngày đầu năm cho tới thời điểm khi bài viết này được thực hiện, đã có tới chín bộ phim kinh dị Việt Nam được ra mắt trên màn ảnh rộng, chiếm gần một phần ba tổng số 30 tác phẩm điện ảnh quốc nội đã công chiếu năm 2026 (nếu tính cả những bộ phim kinh dị quốc tế được nhập về phát hành, con số sẽ lên tới 60).

Bốn trong số chín tác phẩm này thậm chí đã vượt mốc doanh thu 100 tỷ đồng tại phòng vé, bao gồm Quỷ Nhập Tràng 2 (134 tỷ), Heo Năm Móng (124 tỷ), Phí Phông: Quỷ Máu Rừng Thiêng (201 tỷ) và Ma Xó (146 tỷ). Điều này còn đáng chú ý hơn khi ta nhận ra đó là một nửa số phim Việt đã xoay xở vượt qua thứ cột mốc trăm tỷ mà mọi nhà sản xuất đều khao khát.

alt
Bốn trong số chín tác phẩm này thậm chí đã vượt mốc doanh thu 100 tỷ đồng tại phòng vé, bao gồm Quỷ Nhập Tràng 2, Heo Năm Móng, Phí Phông: Quỷ Máu Rừng Thiêng và Ma Xó.

Kỳ lạ thay, cách đây không lâu, Cục Điện ảnh Việt Nam đã ban hành một công văn đề cập trực tiếp tới sự gia tăng đáng kể về số lượng của dòng phim kinh dị trong thời gian qua, đồng thời kêu gọi các kế hoạch sản xuất và phát hành phim một cách cân bằng và đa dạng hơn về đề tài, thể loại.

Thoạt nhìn thì công văn của Cục có phần kỳ lạ, thậm chí… ngược đời. Ở một nền điện ảnh vẫn đang phát triển, doanh thu phòng vé đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy cả ngành về phía trước. Trên lý thuyết, nhiều phim thành công về mặt tài chính đồng nghĩa rằng các xưởng phim sẽ có nhiều tiền hơn để tái đầu tư và đảm bảo có thêm nhiều tác phẩm nữa được thực hiện. Dòng phim kinh dị rõ ràng đang mang về hiệu quả cao, vậy cớ sao lại phải kìm hãm việc sản xuất chúng?

Câu trả lời có lẽ nằm ở những góc khuất mà doanh thu phòng vé, từ trước tới nay, chưa bao giờ có thể kể một cách toàn diện. Hãy thử nhìn vào biết bao bài viết và phê bình về những bộ phim kinh dị đó trên các trang báo, mạng xã hội, những chuyên trang về điện ảnh như IMDb hay Letterboxd, và ta sẽ lập tức nhận ra rằng rất hiếm tác phẩm nào được đánh giá cao dựa trên chất lượng và tính nghệ thuật.

Vấn đề không chỉ nằm ở số lượng phim kinh dị ồ ạt ra rạp với tốc độ chóng mặt, mà còn nằm ở mặt bằng chất lượng (tương đối thấp) của chúng. Hay theo công văn của Cục Điện ảnh, đó là việc “một số tác phẩm tập trung quá mức vào các yếu tố gây bạo lực, máu me hoặc các yếu tố mê tín, giật gân, trong khi chưa thực sự đầu tư tương xứng cho chất lượng nghệ thuật, ngôn ngữ điện ảnh.”

Để thấu hiểu trọn vẹn những trăn trở về hiện trạng phim kinh dị Việt Nam, ta phải lùi lại để nhìn vào bức tranh toàn cảnh, một bức tranh phác họa lại nguồn gốc và căn tính của dòng phim kinh dị, sức hấp dẫn đến béo bở của việc sản xuất chúng, những bài học lịch sử cay đắng từ kỷ nguyên “phim mì ăn liền” cùng nhiều thất bại trong lịch sử quốc tế khi các xưởng phim mù quáng chạy theo xu hướng, và sau cùng, tương lai của nền điện ảnh nước nhà.

Câu chuyện của phim kinh dị Việt Nam

Đối với một nền điện ảnh bị gắn mác (một cách khá bất công) là “đi sau Hollywood cả một thế kỷ”, phim kinh dị tại Việt Nam xuất hiện gần như cùng lúc với điện ảnh thế giới. Cánh Đồng Ma (1938), tác phẩm thường được coi là bộ phim kinh dị đầu tiên của Việt Nam, ra đời không quá lâu sau những tượng đài đầu như Häxan (1922), Nosferatu (1922), hay các bộ phim quái vật kinh điển của Universal thập niên 30 như Dracula hay Frankenstein.

alt
Ảnh tư liệu đoàn làm phim “Cánh đồng ma”. | Nguồn: Tạp chí điện tử Người Đô Thị

Và cũng giống như việc thập niên 70 mở ra một thời kỳ hoàng kim cho phim kinh dị, đặc biệt là trong lòng Hollywood, với những tác phẩm kinh điển như The Exorcist, Texas Chainsaw MassacreHalloween, giai đoạn này cũng chứng kiến phim kinh dị Việt Nam có bước tiến lớn tiếp theo với những tựa phim như Lệ Đá hay Con Ma Nhà Họ Hứa.

alt
Ra mắt năm 1971, Lệ Đá là một trong những phim kinh dị nổi bật của điện ảnh miền Nam, đồng thời từng đoạt giải tại Đại hội Điện ảnh cùng năm. | Nguồn: Lưu trữ của Blu trên Facebook
alt
Con Ma Nhà Họ Hứa (1973) từng tạo nên cơn sốt phòng vé và trở thành một trong những dấu mốc đáng nhớ của phim kinh dị Việt Nam thời kỳ đầu. | Nguồn: Một thời Sài Gòn - WordPress.com

Nhiều thập kỷ sau, vào cuối những năm 2010, bộ phim ma Việt-Hàn Mười được ra mắt. Đây có lẽ bộ phim đầu tiên mà khán giả ngày nay thực sự nhớ đến như một hiện tượng ngoài rạp; đồng thời cũng là minh chứng đầu cho thấy phim kinh dị có thể mang về doanh thu khổng lồ ở phòng vé, mở đường cho vô số bộ phim kinh dị thương mại khác nối gót.

alt
Ra mắt năm 2007, Mười – dự án kinh dị hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc – đánh dấu sự trở lại đáng chú ý của phim kinh dị trên màn ảnh Việt sau nhiều năm vắng bóng. | Nguồn: aFamily

Từ đó, phim kinh dị Việt Nam dần tìm thấy bản sắc đặc trưng của mình với dòng phim “linh dị”. Là một đất nước của 54 dân tộc, với mỗi dân tộc và vùng miền sở hữu một số truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian và phong tục tâm linh riêng, Việt Nam chúng ta hoàn toàn không thiếu những câu chuyện mang yếu tố siêu nhiên để chuyển thể lên màn ảnh. Vì vậy, từ cuối thập niên 2010 và xuyên suốt những năm 2020, một loạt các bộ phim linh dị đã liên tục được sản xuất.

alt
Từ bùa ngải, hủ tục cưới hỏi đến những truyền thuyết về vong hồn, chất liệu dân gian đang trở thành nguồn cảm hứng quen thuộc của phim kinh dị Việt những năm gần đây.

Đặc điểm này khá tương đồng với điện ảnh kinh dị quốc tế. Một lượng lớn phim kinh dị phương Tây luôn khai thác các yếu tố tâm linh của Thiên Chúa giáo và Đa thần giáo. Tương tự, phim kinh dị thời kỳ đầu của Nhật Bản chủ yếu dựa trên kaidan - những câu chuyện truyền thống về ma và yōkai bắt nguồn từ thời Edo và Meiji. Phim kinh dị Thái Lan lại thường xoay quanh yếu tố tâm linh từ Phật giáo Nam truyền hoặc khai thác các câu chuyện dân gian về vong ma, bùa ngải.

Trong công văn, Cục Điện ảnh đã đề cập tới điều này, thúc giục các hãng phim “cần cân nhắc thận trọng trong việc lựa chọn, khai thác và thể hiện các đề tài có yếu tố bạo lực, kinh dị, mê tín dị đoan”, một phần vì chúng có thể tạo ra một hình ảnh không quá tích cực về văn hóa Việt Nam. Mặc dù dòng phim linh dị quả thực đã đưa một số giai thoại đặc sắc của Việt Nam đến với nhiều người hơn, và cũng rất khó để nói rằng phim kaidan Nhật Bản hay phim kinh dị Thái Lan đã tạo ra hình ảnh tiêu cực về những quốc gia này, không thể phủ nhận thực tế rằng phim linh dị của Việt Nam đang ngày một trở nên bão hòa, với chất lượng nghệ thuật giảm sút rõ rệt (Dự án Ma Vú Dài được công bố gần đây khiến ta phải tự hỏi liệu các nhà làm phim có đang bắt đầu vào giai đoạn “hết nạc vạc đến xương” rồi không?).

alt
Lấy cảm hứng từ hình tượng “ma vú dài” trong truyền thuyết dân gian Nam Bộ, dự án cùng tên tiếp tục cho thấy sức hút của chất liệu tâm linh trong phim kinh dị Việt hiện nay. | Nguồn: CGV

Kinh dị vốn không chỉ là những câu chuyện xoay quanh đức tin và tín ngưỡng tâm linh. Một số tác phẩm kinh dị xuất sắc nhất mọi thời đại khai thác những địa hạt kinh dị hoàn toàn khác, từ nỗi sợ nguyên thủy của con người với thiên nhiên, sự dè chừng với công nghệ tương lai, hay cảm giác lo lắng trước một vũ trụ vô tận. Công văn của Cục Điện ảnh có thể vừa là một lời khuyên, vừa là một lời thách thức các nhà làm phim nhìn xa hơn để tìm kiếm chủ đề, ngay chính trong thể loại kinh dị.

Phim kinh dị: Miếng bánh béo bở

Nếu chất lượng đang trượt dốc và giếng nguồn kịch bản có nguy cơ cạn kiệt, vì sao việc làm phim kinh dị vẫn có sức hút mãnh liệt tới vậy?

Dòng phim kinh dị vốn vận hành theo một mô hình rủi ro thấp, song lại mang lại lợi nhuận cực kỳ béo bở. Một bộ phim kinh dị không nhất thiết đòi hỏi những bối cảnh đồ sộ, diễn viên hạng A với mức cát-xê trên trời, hoặc thậm chí là kỹ xảo tinh vi phức tạp. Đôi khi, tất cả những gì một bộ phim kinh dị cần là một ngôi nhà đủ góc khuất, một ý tưởng đủ rùng rợn và một kịch bản đủ khả năng tạo nên sự căng thẳng. Chỉ như vậy thôi, đôi khi cũng là đủ để hù dọa và mời gọi khán giả ra rạp. Bởi lẽ sau cùng, nỗi sợ hãi vẫn luôn là một trong những cảm xúc nguyên thủy nhất, và vì vậy cũng dễ kích động nhất trong mỗi chúng ta.

Lịch sử điện ảnh thế giới có không ít minh chứng cho nguyên lý “mỏ vàng” này qua những khoản bội thu từ các dự án kinh dị có chi phí sản xuất siêu thấp. The Blair Witch Project (1999) là một ví dụ điển hình. Với ngân sách vỏn vẹn dưới 750.000 USD, các diễn viên vô danh cầm chiếc máy quay rung lắc chạy quanh khu rừng tối, và một chiến dịch marketing hiệu quả tới nỗi nhiều người tưởng dàn cast thực sự đã bỏ mạng sau khi ghi lại những thước phim, The Blair Witch Project thu về tới 250 triệu đô trên toàn cầu. Hay Paranormal Activity (2007) cũng được thực hiện với kinh phí chỉ 450.000 đô trước khi thu về 195 triệu và mở ra một chuỗi phim riêng.

alt
Top 5 bộ phim có tỷ suất sinh lời cao nhất mọi thời đại. | Nguồn: TheWrap

Và nếu kinh phí hai tác phẩm kể trên có thể thấp nhờ đặc thù của dòng phim found-footage, thì ngay trong năm nay, tác phẩm Obsession đã chứng minh rằng một đạo diễn đủ tự tin và một kịch bản thông minh, đánh trúng tâm lý bất an của người xem hoàn toàn có thể đè bẹp những bom tấn nhồi nhét kỹ xảo đắt đỏ tại rạp chiếu, đồng thời vẫn giành được sự công nhận nhiệt liệt từ giới phê bình. Cũng với kinh phí 750.000 đô, tức còn thấp hơn một số bộ phim Việt Nam ra rạp năm nay, Obsession đã thu về tới 475 triệu đô (tức lãi hơn 63.000%).

alt
Chỉ tốn vỏn vẹn 750.000 USD kinh phí, Obsession lại đang làm nên chuyện ngoài sức tưởng tượng khi cán mốc 475 triệu đô. | Nguồn: Phim Obsession

Song cũng chính vì đặc điểm này mà nhiều khi, việc “bật đèn xanh” cho một tác phẩm kinh dị lại trở nên quá dễ dãi. Nhiệm vụ trên hết của phim kinh dị là làm khán giả sợ. Nhưng việc tạo ra nỗi sợ nhiều khi chỉ cần dựa trên những mánh khóe đơn giản, như một màn jump scare dễ đoán, một tiếng ồn lớn đột ngột, một bóng đen lao ra màn hình để khán giả thót tim,... Những bộ phim kinh dị chất lượng thấp là những tác phẩm coi trọng các mánh khóe đó hơn các yếu tố cốt lõi của điện ảnh như kịch bản hay chỉ đạo nghệ thuật. Song những tác phẩm đó vẫn kiếm bội tiền, vì một bộ phận lớn khán giả đôi khi chỉ cần một cú sốc adrenaline. Nó đặt phim kinh dị vào một vòng lặp dăng dẳng, khi đạo diễn nhận ra tại sao họ phải cố làm phim hay khi phim chưa hay vẫn được đón nhận nhiệt liệt, trong khi khán giả dần hạ thấp chuẩn mực về định nghĩa của một tác phẩm kinh dị chất lượng.

alt
Quỷ Nhập Tràng từng bị phê bình vì lạm dụng jump scare và các màn hù dọa dồn dập, khiến cách tạo nỗi sợ trở nên lặp lại và thiếu mới mẻ. | Nguồn: Quỷ Nhập Tràng

Vì đặc thù và hạn chế của mô hình điện ảnh Việt Nam, vòng lặp đó càng tai hại hơn. Ở những thị trường đã định hình, thành công về mặt doanh thu không nhất thiết đồng nghĩa rằng toàn bộ ngành điện ảnh tự uốn nắn để xoay quanh các “cây hái tiền” đó.

Lấy ví dụ như tại Mỹ. Các hãng phim lớn của Hollywood có thể thoải mái sử dụng số tiền lãi từ những bộ phim bội thu tại phòng vé, ngay cả khi những tác phẩm đó không được giới phê bình đánh giá cao, để đầu tư cho những bộ phim nghệ thuật mang tính rủi ro hơn từ chính các studio nhỏ trực thuộc của họ (như Searchlight Pictures của 20th Century Studios và Walt Disney Studios, hay Sony Classics của Sony Pictures).

Ở Pháp, Trung tâm Điện ảnh Quốc gia CNC tận dụng một loại thuế được trích trực tiếp từ doanh thu phòng vé để tài trợ cho các dự án điện ảnh khác. Mô hình này đã tồn tại từ sau Thế chiến 2, và tới nay đã góp một phần rất lớn trong việc xây dựng nên một nền điện ảnh Pháp đa dạng và vững chắc, nơi khả năng một bộ phim thương mại hay một tác phẩm độc lập quy mô nhỏ được thực hiện là hoàn toàn “ngang cơ”.

Trương tự, Trung Quốc dù sở hữu Tập đoàn Điện ảnh Trung Quốc khổng lồ trực thuộc nhà nước - là công ty sản xuất và phân phối hầu hết các bom tấn thương mại lớn nhất của quốc gia này, song họ cân bằng điều đó bằng Liên minh Rạp chiếu Nghệ thuật Quốc gia (NAAC), do Viện Lưu trữ Điện ảnh Trung Quốc khởi xướng nhằm thúc đẩy việc phát hành các bộ phim nghệ thuật Trung Quốc cả ở trong nước lẫn quốc tế, tạo điều kiện cho những tác phẩm này không quá “lép vế” trước các bộ phim thương mại.

Hiện tại, Việt Nam chưa thực sự có những mô hình lưới an toàn rõ ràng tới vậy. Nền điện ảnh Việt vẫn đang phát triển, vậy nên các hãng phim hiện chưa có đủ tiềm lực tài chính hay cấu trúc để chơi cả hai ván bài song song. Có lẽ vì thế, nhiều xưởng phim chưa dám mạo hiểm vốn liếng và chỉ lựa chọn làm những bộ phim nhiều khả năng thắng lợi tại phòng vé, trong khi tiêu chuẩn về chất lượng nghệ thuật nhiều khi sẽ bị xếp đằng sau.

Với việc một mô hình điện ảnh bị mắc kẹt trong vòng lặp chỉ-làm-phim-thương-mại, thật không dễ dàng cho các nhà làm phim độc lập dành nhiều năm ròng rã tìm kiếm tài trợ trong khi các giám đốc điều hành hãng phim lại quá đỗi dễ dàng phán một dự án tâm huyết là “không có lãi”. Để rồi vòng lặp đó cứ tiếp tục nhào nặn ra những bộ phim thương mại (hay trong trường hợp này là phim kinh dị) với chất lượng ngày một thấp đi.

Bài học từ kỷ nguyên phim “mì ăn liền” và điện ảnh thế giới

Triết gia người Tây Ban Nha từng nói rằng:

Những ai không ghi nhớ quá khứ ắt sẽ lặp lại nó.

Nếu có một bài học mang tính đề phòng mà các studio hiện đại nên “khắc cốt ghi tâm”, đó chính là kỷ nguyên phim “mì ăn liền” tai tiếng của Việt Nam vào những năm 1990.

Trong thời kỳ bao cấp, các bộ phim Việt chủ yếu được Nhà nước cấp kinh phí để sản xuất. Khi thời bao cấp kết thúc cũng là lúc điện ảnh rơi vào khủng hoảng. Cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990, cơ sở vật chất và thiết bị làm phim dần xuống cấp, kinh phí đầu tư cho điện ảnh cũng thất thoát do việc cắt giảm ngân sách của Nhà nước. Làm phim chiếu rạp, nếu không phải bất khả thi, thì cũng là một khó khăn mà không ai thực sự dám đánh liều.

Tuy nhiên, cũng ở thời điểm đó, công nghệ quay video và băng VHS giá cả phải chăng bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Các hãng phim Việt Nam bỗng nhận ra rằng họ không nhất thiết phải làm phim chiếu rạp, thay vào đó có thể quay phim video một cách nhanh chóng và rẻ tiền hơn rất nhiều. Những bộ phim này phần lớn khai thác chủ đề hài, kinh dị, tình cảm, hay dã sử võ hiệp phỏng theo cơn sốt phim chưởng Hồng Kông và Đài Loan, được sản xuất vội vã, đôi khi chỉ bấm máy trong vỏn vẹn vài ngày. Có phim không có kịch bản hoàn chỉnh, còn những bộ phim có kịch bản thì vô cùng sơ sài, nhiều khi chỉ là những tình huống hài mảng miếng tạm chắp vá lại thành “câu chuyện”. Dựng phim cẩu thả, diễn xuất yếu kém,... Từ đó, biệt danh “mì ăn liền” mới xuất hiện - làm nhanh, giá rẻ, dễ nuốt, và cuối cùng là hoàn toàn không có bất kỳ giá trị dinh dưỡng nào.

alt
Công nghệ video từng giúp điện ảnh Việt sản xuất nhanh và rẻ hơn, nhưng cơn sốt “phim mì ăn liền” cũng để lại một bài học về cái giá của việc chạy theo nhu cầu tức thời. | Nguồn: Redsvn.net

Ban đầu, phim “mì ăn liền” vẫn thành công. Chúng được đánh giá là “dễ xem” vì không đòi hỏi khán giả đầu tư quá nhiều sự tập trung hay chất xám để thưởng thức. Và quan trọng hơn, ai cũng có thể mua băng đĩa về nhà xem. Nhưng rồi đến khoảng năm 1996, kỷ nguyên của phim “mì ăn liền” bắt đầu sụp đổ. Bởi lẽ chẳng ai có thể ăn mì ăn liền mãi. Khán giả rồi cũng dần kiệt sức vì sự cạn kiệt về chiều sâu và giá trị nghệ thuật của dòng phim này.

Không chỉ riêng ở Việt Nam, ta cũng thấy những thất bại tương tự trong các ngành công nghiệp điện ảnh quốc tế khi họ chạy theo trào lưu và làm phim chỉ dựa trên xu hướng của một thể loại. Gần giống với “trend” phim kinh dị của Việt Nam giờ đây, vào giữa thập niên 60, điện ảnh Ý nổi lên dòng phim giật gân giallo với các yếu tố gây sốc như đâm chém, tình dục, tâm lý kinh dị,... Ban đầu, trào lưu cho ra đời những tác phẩm kinh điển như Blood and Black Lace hay The Bird with the Crystal Plumage, song dần chết ngạt dưới sức nặng của chính mình khi biết bao tác phẩm dập khuôn, thiếu đầu tư và tính sáng tạo tràn ngập các rạp chiếu phim châu Âu, triệt tiêu hoàn toàn uy tín quốc tế của thể loại này (trong giai đoạn 5 năm từ 1971 đến 1975, hơn 100 bộ phim giallo được sản xuất).

alt
Giallo từng mở ra một giai đoạn sáng tạo đặc sắc cho điện ảnh kinh dị Ý, nhưng thành công của những tác phẩm tiên phong cũng nhanh chóng kéo theo một làn sóng bắt chước và sản xuất ồ ạt trong thập niên 1970 (Blood and Black Lace 1964 (trên); The Bird with the Crystal Plumage 1970 (dưới)).

Tương tự, sự ám ảnh của Hollywood với việc chuyển đổi định dạng hậu kỳ của mọi bộ phim bom tấn sang 3D sau thành công của Avatar đã dẫn đến tác phẩm kỹ xảo chất lượng thấp, gây nhức đầu, và làm tổn hại vĩnh viễn nhận thức của công chúng về định dạng này. Chạy theo xu hướng bất chấp chất lượng nghệ thuật, sau cùng, vẫn luôn là một căn bệnh chí mạng của điện ảnh.

Tương lai của điện ảnh Việt Nam

Trở lại với công văn của Cục Điện ảnh. Ngoài việc phim kinh dị ngày một bão hòa và giảm sút về chất lượng, sự gia tăng ồ ạt của dòng phim này cũng có thể sẽ cản trở sự phát triển của một thể loại phim đang được hứa hẹn sẽ trở thành bộ mặt của điện ảnh Việt Nam trong tương lai gần: phim lịch sử.

Tiếp nối thành công vang dội của những Đào, Phở và Piano, Địa Đạo: Mặt Trời Trong Bóng TốiMưa Đỏ, rất nhiều dự án phim được sản xuất dựa trên, và nhằm quảng bá cho, lịch sử Việt Nam hiện đang được thực hiện. Danh sách đồ sộ này bao gồm những Hộ Linh Tráng Sĩ: Bí Ẩn Mộ Vua Đinh, Cận Kề Cái Chết, Hoàng Hậu Cuối Cùng, Đất Đỏ, Mật Mã Đông Dương, Nữ Biệt Động Sài Gòn, và Vùng Trời Lửa.

alt
Sau thành công của một số tác phẩm lịch sử, chiến tranh gần đây, điện ảnh Việt đang chứng kiến làn sóng dự án mới khai thác lịch sử, nhân vật và ký ức dân tộc dưới nhiều thể loại khác nhau.

Qua công văn, Cục Điện ảnh khuyến khích “ưu tiên các tác phẩm quảng bá lịch sử, văn hóa, thiên nhiên và con người Việt Nam; lan tỏa những câu chuyện tích cực, truyền cảm hứng về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, trách nhiệm xã hội, ý chí vươn lên và khát vọng cống hiến; góp phần bồi đắp niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước và nâng cao ý thức công dân, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.” Nếu bối cảnh điện ảnh cứ mãi sa lầy vào những màn hù dọa rẻ tiền và những giai thoại dân gian nhuốm máu, thì liệu còn tồn tại đủ chỗ cho những thiên sử thi này có thể hít thở không?

Nhìn lại điện ảnh Việt Nam, có đủ ví dụ cho những xu hướng làm phim bắt đầu với đôi chút sự hứa hẹn, nhưng rồi chất lượng tác phẩm ngày một đi xuống. Đó là phim “mì ăn liền”. Đó là những tác phẩm hài nhảm từ những năm 2010 tới nay. Và giờ đây, nó đang bộc lộ một cách chậm rãi nhưng rõ rệt với dòng phim kinh dị. Một sự thay đổi là cần thiết, hoặc thậm chí là bắt buộc phải xảy ra để phá vỡ vòng lặp vô tận này. Tương lai của một nền điện ảnh không thể tồn tại hoàn toàn dựa trên những thôi thúc phù phiếm, bồng bột của phòng vé, mà ở một chân trời nào đó nơi khả năng sinh lời thương mại không mặc nhiên đòi hỏi sự hy sinh của tính toàn vẹn nghệ thuật.