False Uniqueness Effect: Tưởng mình đặc biệt, hóa ra ai cũng đặc biệt như mình | Vietcetera
Billboard banner
Vietcetera

False Uniqueness Effect: Tưởng mình đặc biệt, hóa ra ai cũng đặc biệt như mình

Làm thế nào để đánh giá sự khác biệt của bản thân một cách công tâm?
Hà Phạm
False Uniqueness Effect: Tưởng mình đặc biệt, hóa ra ai cũng đặc biệt như mình

Nguồn: Thịnh Trần @orkaboi cho Vietcetera

Trải nghiệm rõ rệt và sớm nhất của tôi về False Uniqueness Effect đến từ những ngày còn học phổ thông. Khi đó, vốn tiếng Anh trôi chảy so với các bạn cùng lớp lúc nào cũng cho tôi một cảm giác hãnh diện, hiếm ai có được. Ngược lại, tôi cảm thấy chuyện tôi dở toán là nỗi khổ ai cũng phải trải qua ít nhiều, rằng còn rất nhiều người ngoài kia dù đã nỗ lực nhưng điểm toán vẫn lẹt đẹt.

Nhưng khi quá trình trưởng thành đưa tôi từ trường phổ thông lên đại học, từ trường đại học lên trường đời, tôi nhận ra: lượng người có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo như mình thực tế khá đông đảo, chí ít đủ nhiều để tôi biết cảm giác “đẳng cấp” mà mình nhận định xưa kia chỉ là “ảo giác thôi, ảo giác thôi”. Và số người học dở toán, tương tự, cũng không quá nhiều đến mức 1 mét vuông 3 người dở toán như tôi tưởng.

Không dừng lại ở cặp đôi toán-anh văn trong câu chuyện trên, hiện tượng tâm lý này còn xuất hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, có khi chính bạn cũng đang trải qua mà không biết. Vậy cùng tìm hiểu xem False Uniqueness Effect là gì, và bằng cách nào để bạn biết sự đặc biệt của mình… có thực sự đặc biệt?

False Uniqueness Effect là gì?

False Uniqueness Effect (Tạm dịch: Hiệu ứng lầm tưởng sự độc đáo) là một dạng thiên kiến nhận thức cho rằng bản thân độc đáo, đặc biệt hơn số đông nhưng thực tế không phải. Nghiên cứu tiền đề về hiện tượng này là vào năm 1980 bởi hai nhà khoa học Charles R. Snyder và Howard L. Fromkin, khi đó nó được gọi là Perceptions Of Uniqueness (cảm nhận về sự độc đáo). Dựa trên nền tảng này, hai nhà tâm lý học Jerry Suls và Choi K. Wan tiếp tục nghiên cứu và chính thức đặt tên “False Uniqueness Effect” vào năm 1987.

Não bộ, cụ thể hơn là cái tôi thường muốn củng cố bản sắc cá nhân bằng những giá trị tốt đẹp (mà đẹp thôi chưa đủ, còn phải hiếm hoi mới oách!). Vì thế, một đặc trưng trong biểu hiện của False Uniqueness Effect là khi thấy biểu hiện tích cực về bản thân, chúng ta sẽ hay “thấy sang bắt quàng làm họ” mà cho rằng không nhiều người khác cũng được như thế.

Ví dụ như anh A cho rằng chuyện anh bỏ hút thuốc là điều ít người làm được (dù thực ra có rất nhiều người cũng làm được). Ngược lại, nếu biểu hiện tiêu cực, chúng ta sẽ cho rằng điều đó phổ biến hơn với số đông. Tiếp tục với anh A, anh cho rằng đám đông phần lớn ai cũng đều lướt TikTok quá 180 phút lúc 1h sáng, dù thật ra khi đó đa số mọi người đã say giấc nồng vì không muốn sáng đi làm lờ đờ.

Đáng chú ý, biểu hiện của False Uniqueness Effect không phải lúc nào cũng theo chiều hướng tích cực nâng cao bản thân. Trong nghiên cứu của nhà tâm lý học Justin Kruger về tự đánh giá khả năng cá nhân, nhiều ứng viên đánh giá độ thành thạo về những kỹ năng khó của họ thấp hơn mặt bằng chung (lập trình, chơi cờ, tung hứng) và cao hơn mặt bằng chung với những kỹ năng dễ hơn (lái xe, giao tiếp). Và bạn có nhận ra đôi lúc mình thấy lạc lõng, cô độc vì “xung quanh chẳng ai như mình, liệu mình lập dị đến vậy sao” hay không?” Suy nghĩ như vậy cũng chính là False Uniqueness Effect, chỉ là ở phía tiêu cực mà thôi.

Chúng ta có kiêu ngạo hay không khi lầm tưởng mình là người đặc biệt?

Nguyên nhân đằng sau hiện tượng tâm lý này có cả chủ quan lẫn khách quan, nên không thể kết luận ngay chúng ta là người kiêu ngạo vì có False Uniqueness Effect.

Xét đến nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân cốt lõi của False Uniqueness Effectthiên kiến tự củng cố (self-enhancement bias). Chúng ta luôn muốn cảm thấy tốt đẹp hơn về bản thân tới một mức độ nào đó. Khi gán giá trị tốt đẹp với “sự độc đáo” và giá trị tiêu cực với “sự tầm thường”, chúng ta cảm thấy vị thế của mình được nâng cao hơn mà không phải gây hại đến người khác (nói dối, hạ thấp, công kích cá nhân). Đã có nghiên cứu chỉ ra khi đề cập đến những chủ đề về bản sắc cá nhân, chúng ta sẽ thể hiện nhu cầu muốn được khác biệt mạnh mẽ hơn.

alt
Chúng ta luôn muốn cảm thấy tốt đẹp hơn về bản thân tới một mức độ nào đó.

Ngoài ra hiện tượng này cũng có có nhiều điểm tương đồng với self-serving bias (thiên kiến vị kỷ). Thiên kiến vị kỷ là khi một người ghi nhận công sức và nỗ lực của bản thân khi đạt kết quả tốt, và đổ lỗi cho những nhân tố bên ngoài nếu gặp kết quả tệ. Bên cạnh đó, confirmation bias (thiên kiến xác nhận) cũng sẽ vô thức điều hướng bạn đến với đối tượng khớp với quan điểm của mình.

Bên cạnh đó bệnh tâm lý, áp lực xã hội, văn hóa của môi trường sống cũng được xem là nguyên nhân khách quan của hiện tượng này. Ví dụ về bệnh tâm lý, một người trầm cảm có thể không nhận thức được nhiều người khác cũng đang khổ sở trong đau buồn suốt đời, do đó họ sẽ cho rằng nỗi đau khổ của mình nghiêm trọng hơn nỗi đau khổ của người khác (trích Bách khoa toàn thư về tâm lý học liên văn hóa (biên tập bởi Kenneth D. Keith, 2013)).

Còn về áp lực xã hội và môi trường sống, xin trích lại ví dụ sau từ chia sẻ của chị Chi Nguyễn (The Present Writer)trong một bài viết về chủ đề tương tự trên Vietcetera: “Khi mình còn ở Việt Nam, mọi người thường rất hay nhận xét về làn da của mình, rằng nó nâu quá. Nhưng khi sang nước ngoài, làn da của mình lại sáng hơn rất nhiều người. Và nhiều người thậm chí còn thích nước da nâu hơn nước da sáng.”

Làm thế nào để đánh giá sự khác biệt của bản thân một cách công tâm?

Cũng trong bài viết vừa nhắc ở trên, chị Chi Nguyễn đã rút ra một kết luận về chủ đề này mà tác giả vô cùng tâm đắc: “Tóm lại, hành động, thái độ và góc nhìn của bạn mới là thứ có thể tạo cho bạn sự khác biệt. Còn xét về những thứ như ngoại hình, phẩm chất, hay thậm chí hoàn cảnh, xuất thân, bạn có thể khác biệt, nhưng còn rất nhiều người khác cũng thế.”

alt
Hành động, thái độ và góc nhìn của bạn mới là thứ có thể tạo cho bạn sự khác biệt.

Từ kết luận đó, nếu thực sự muốn đánh giá sự khác biệt, chúng ta nên chỉ tập trung vào 3 khía cạnh: hành động, thái độgóc nhìn của bản thân. Bạn có thể đánh giá nhận định của mình là phổ biến hay hiếm gặp qua việc kiểm tra với nhiều người từ nhiều bối cảnh khác nhau, qua các số liệu nghiên cứu, và mạng xã hội (nhưng lưu ý mạng xã hội sẽ dễ làm bạn rơi vào buồng vang thông tin và thiên kiến nhận thức do thuật toán).

Cuối cùng, sự hài lòng về vị thế của bản thân nên được tiếp cận với góc nhìn dung hòa cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Nếu cứ cố gắng khăng khăng sự khác biệt của mình đến mức ảnh hưởng công việc chung, bạn, có khi, chỉ đang trở thành người ái kỷ trong mắt người khác. Cũng đừng buồn bã vì thấy mình “chẳng giống ai”, đơn giản là bạn chưa “bắt sóng” được cộng đồng của mình mà thôi. Tập trung vào phát triển bản thân và chủ động tìm kiếm những người cùng tần số chính là phương án để vừa củng cố bản sắc khác biệt nhưng vẫn hòa nhập với mọi người xung quanh.